Trong thời gian làm Đại sứ tại Vương quốc Bỉ, bà đã có nhiều đóng góp trong việc tăng cường mối quan hệ mọi mặt với các nước thành viên Châu u, nơi mà Bỉ được xem là trung tâm của Châu u. Những ngày Việt Nam tại Bỉ do bà khởi xướng được đánh giá là một trong những sự kiện thành công đang được kế thừa và phát triển. Trước thềm sự kiện năm nay (tổ chức tại Ghent từ ngày 9-17/9), bà đã có cuộc chia sẻ với PV Thanh Niên về mối quan hệ Việt - Bỉ và những kỷ niệm của bà trong thời gian sống ở đây .
VN và Bỉ đã có 33 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, bà đánh giá như thế nào về mối quan hệ truyền thống, những thành quả đạt được trong quan hệ ngọai giao giữa hai nước?
- Phải nói rằng Bỉ và VN thiết lập quan hệ ngoại giao khá sớm, ngay sau khi Hiệp định Paris về VN được ký kết năm 1973. Sau một thời gian gián đoạn trong những năm 80 vì bất đồng về một số vấn đề quốc tế, quan hệ hai nước được nối lại vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
Những năm gần đây, quan hệ giữa hai nước phát triển theo chiều hướng tích cực trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, giáo dục và quân sự. Nhiều phái đoàn cấp cao của hai nước đã đến thăm nhau và ký kết nhiều hiệp định quan trọng. Bỉ cũng đã mở văn phòng quân sự tại VN. Cho đến nay, Bỉ đã thu hẹp diện nước nhận ODA, từ 60 nước xuống còn 25 nước và VN là nước duy nhất ở châu Á thuộc diện này. Theo một nghĩa nào đó thì VN là nước nhận được sự ưu ái của Bỉ.
Bà đánh giá thế nào về kết quả trao đổi thương mại giữa hai nước hiện nay? Theo bà, liệu có thể có sự bứt phá trong quan hệ thương mại song phương giữa hai nước sau khi VN gia nhập WTO?
Năm 2005, kim ngạch thương mại hai chiều là 723 triệu euro, trong đó VN xuất siêu rất lớn. Bỉ xuất sang VN chỉ 130 triệu euro, còn VN xuất sang Bỉ 593 triệu euro. Từ giữa năm 2003 đến 2005, kim ngạch thương mại đã tăng lên 50%. Với một nước chỉ có 10 triệu dân thì phải nói đây là một con số khá lớn. Nếu so sánh với Pháp, một nước lớn ở châu u, VN cũng chỉ xuất khẩu sang Pháp 606 triệu euro.
Sau khi VN gia nhập WTO, quan hệ Việt - Bỉ chắc chắn sẽ có những hệ quả tích cực. Tuy nhiên nếu nói về sự đột phá thì rất khó vì dân số Bỉ không lớn và cộng đồng người Việt ở Bỉ thì rất khiêm tốn, đa số họ lại là công nhân viên chức và rất ít doanh nghiệp.
Trong thời gian làm Đại sứ tại Bỉ (2000-2003), bà đã đứng ra tổ chức "Những tuần lễ văn hoá Việt Nam”, một trong những sự kiện được đánh giá là thành công nhất của VN tại nước ngoài. Bà có thể cho biết qua về những tuần lễ trước đây, mục tiêu, ý nghĩa cũng như những kinh nghiệm tổ chức?
- Trước khi đến Bỉ tôi đã ấp ủ tổ chức sự kiện Những ngày Việt Nam tại Bỉ. Lập luận của tôi là nước này có 3 vùng, gồm 1 vùng nói tiếng Hà Lan, 1 vùng nói tiếng Pháp và 1 vùng hỗn hợp, nên muốn tiếp cận được chiều sâu và chiều rộng thì phải tiếp cận cả 3 vùng của Bỉ. Chính vì lẽ đó, tôi đã quyết định tổ chức sự kiện tại 3 vùng trong ba tuần lễ. Việc tiếp cận với tỉnh Flanders, vùng nói tiếng Hà Lan đã được thực hiện 6- 7 năm nay và thu được hiệu quả rất tốt. Đây là vùng kinh tế rất mạnh của Bỉ.
Khi tổ chức, tôi xác định đại sứ quán VN tại Bỉ không phải là một cơ quan xúc tiến thương mại và đầu tư như VCCI hay Cục Xúc tiến thương mại của Bộ Thương mại, bởi vậy chúng tôi không tiến đến những hợp đồng đơn lẻ mà tạo cơ sở cho những cú hích ban đầu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hiểu và tìm hướng đi cho mình. Mục đích của đại sứ quán là làm sao để các doanh nghiệp Bỉ nhìn nhận thực thể VN ngày nay không chỉ đơn thuần là một đất nước chiến tranh mà đó là một đất nước trẻ, năng động, đang đổi mới, có điều kiện để hợp tác với châu u nói chung và với Bỉ nói riêng.
Tại hội chợ ở Ghent, tôi đã cho biểu diễn các bộ áo dài dân tộc của Sỹ Hoàng, Minh Hạnh, Diệu Anh và đựơc đánh giá rất cao. Ông Thị trưởng Ghent lúc bấy giờ cứ trầm trồ khen ngợi. Sau đó, ông thống đốc này đã rất tích cực tạo điều kiện cho các đoàn VN sang hợp tác với trường đại học Ghent.
Trong cuộc đời làm nghề ngọai giao, quãng thời gian ba năm làm việc và sinh sống tại Bỉ chắc hẳn đã để lại trong bà nhiều kỷ niệm khó quên?
- Mặc dù học ở Pháp và đã đi thăm nhiều nước châu u, nhưng tôi chưa có dịp đến Bỉ. Cho đến khi làm đại sứ ở Bỉ tôi mới có điều kiện tìm hiểu thực tế cuộc sống mọi mặt ở Bỉ. Sự thân thiện, nhiệt tình giúp đỡ người nước ngoài không ồn ào của người dân Bỉ chắc chắn để lai sự ấm áp trong lòng nhiều người. Tôi và gia đình cũng có những kỷ niệm mặc dù rất đờI thường nhưng thật đặc biệt. Hồi đó, khi phu quân của tôi sang đây tìm Trung tâm văn hoá Pháp để đăng ký học cho cậu con trai, đang loay hoay không biết đi như thế nào thì có một ông ở trạm xe buýt bước ra, rất nhiệt tình dẫn chồng tôi đến tận trung tâm. Hay có lần tôi đi địa phương ở tỉnh, vì không biết đưòng nên dừng lại hỏi ông sửa xe trước cổng; thay vì chỉ đường thì ông ấy dừng việc và lấy xe đưa tôi đến nơi. Chúng tôi quả thực rất cảm động trước sự thân thiện, giúp đỡ nhiệt tình của những người dân sống trong một nước công nghiệp hiện đại như Bỉ.
Trong công việc, tôi nhớ năm 2000, tôi tổ chức tuần lễ những ngày VN tại Bỉ. Hồi đó cộng đồng tiếng Hà Lan có nền kinh tế tốt hơn cộng đồng tiếng Pháp nhưng theo cơ cấu về quyền lực thì cộng đồng này cho rằng họ bị thiệt thòi hơn. Do vậy, tôi quyết định chuyển sang tổ chức tuần lễ tại khu vực nói tiếng Hà lan ở Ghent. Tôi không biết tiếng Hà Lan, nhưng nghĩ mình phải cố gắng giành được sự quan tâm của cộng đồng này. Tôi đã nhờ một Việt kiều viết bài phát biểu của mình bằng tiếng Hà Lan và cố gắng đọc hai đoạn ngắn.
Đêm trước ngày Quốc khánh, anh Việt kiều đã giúp tôi luyện nói qua điện thoại cả tiếng đồng hồ. Kết quả, với bài phát biểu bằng tiếng Hà Lan, tôi đã ghi được dấu ấn lớn với những tràng pháo tay không ngớt kèm nhận xét: Madam Ninh nói tiếng Hà Lan giống tiếng Đức quá! (vì tiếng Đức giống tiếng Hà Lan và tôi cũng biết tiếng Đức). Sự cổ vũ của mọi ngưòi khiến tôi cảm động. Điều đó cũng để thấy rằng đôi khi trong nghề ngoại giao cũng cần phải có sự nhận thức, sự quan tâm và công sức. Qua đó người ta mới quan tâm đến mình hơn.
X.Danh (thực hiện)
Bình luận (0)