Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân (Bài 5)

22/08/2009 23:56 GMT+7

Kỳ 5: Ngày tàn của U-boat Với năng lực tấn công bị hạn chế - chỉ có thể khai hỏa trên mặt nước, thế hệ tàu ngầm U-boat của Đức trở nên lạc hậu trước đà phát triển về phương tiện, vũ khí và phương tiện truyền thông của quân Đồng minh chuyên trách săn tàu ngầm. 725 chiếc U-boat bị đánh chìm cùng với gần 29.000 thủy thủ trong 6 năm tham chiến. Tuy nhiên, thất bại của người Đức đã mở ra một trang mới cho tàu ngầm hiện đại ngày nay.

Năm 1942, công suất đóng tàu của các nước Đồng minh đạt đến đỉnh điểm. Anh, Canada và Mỹ có đủ lượng tàu hộ tống an toàn các đoàn tàu hàng từ đầu đến cuối. Sự “dư dả” của phe Đồng minh giúp khu trục hạm không còn đơn thuần giữ nhiệm vụ bảo vệ. Trái lại, cùng với sự phát triển của vũ khí và radar, khu trục hạm bắt đầu phối hợp với không quân (phi cơ trang bị rocket) triển khai săn lùng ngay sau khi phát hiện sự có mặt của tàu ngầm.

Đến tháng 1.1943, các cuộc chạm trán giữa “bầy sói” và các đoàn tàu hàng không còn đem lại kết quả vui vẻ cho người Đức. Một hải đội gồm 5 tàu ngầm vây đánh đoàn tàu HX224 bao gồm 57 chiếc nhưng chỉ đánh đắm được 3 trong khi bị tổn thất mất 2. Tháng 2.1943, 16 tàu ngầm Đức vây đánh đoàn tàu SC118 gồm 63 chiếc trong trận chiến Donitz – lúc này đã được tấn phong Đại đô đốc, gọi là “trận đánh khó khăn nhất trong suốt cuộc chiến”, với kết quả Đức đánh chìm 12 tàu Đồng minh song cũng thiệt hại mất 3 tàu ngầm và 2 tàu khác bị hư hỏng nặng. Đây không phải là tỷ lệ đánh đổi có lợi cho hải quân Đức.

Tháng 5.1943 có thể xem là điểm xoay của cuộc chiến. Ngày 4.5, đoàn tàu ONS5 đi thẳng vào khu vực “bầy sói” kiểm soát. Cuộc đọ súng kéo dài 3 đêm liền, 41 tàu ngầm Đức vây đánh đắm 12 tàu của quân Đồng minh, song đổi lại, họ cũng trả giá bằng 7 tàu ngầm bị đánh chìm và 3 chiếc khác bị hỏng. Ngày 11.5, hải quân Đồng minh chủ động mở đợt tấn công, lần này đoàn tàu HX237 đánh chìm 3 tàu ngầm Đức mà không hề có tổn thất. Trong tháng này, thêm 4 đoàn tàu bị “bầy sói” tấn công, song phía Đồng minh chỉ mất 3 tàu trong khi họ tiêu diệt được 5 tàu ngầm đối phương.

 Karl Donitz, Đô đốc hải quân Đức
Karl Donitz, Đô đốc hải quân Đức

Chung cuộc, chỉ trong tháng 5.1943, Đức mất đến 41 tàu ngầm và hơn 1.000 thủy thủ đoàn - một tỷ lệ đáng báo động. Nhiều người trong số họ là những sĩ quan kỳ cựu đầy kinh nghiệm, không thể thay thế trong một sáng một chiều. Bản thân con trai vị đô đốc cũng mất mạng chung với chiếc U-954 trong trận đánh đoàn tàu SC130 ngày 19.5. Ngày 24.5, Donitz thú nhận: “Chiến thuật dùng “bầy sói” tấn công các đoàn tàu trên Đại Tây Dương giờ đây không còn hiệu quả”. Ông quyết định rút lượng tàu ngầm còn lại về vùng biển an toàn và chỉ giữ lại một cơ số ít để nghi binh xem như vẫn còn sự hiện diện của “bầy sói” trên Đại Tây Dương. Lúc này, Donitz vẫn chưa tin thắng bại đã phân và cho rằng tàu ngầm Đức cần phải cải tiến thêm kỹ thuật mới cạnh tranh nổi với sự vượt trội của quân Đồng minh. Ông giành được sự ủng hộ để phát triển một thế hệ tàu ngầm mới có tên gọi là Elektroboat, có khả năng hoạt động nhiều tuần liền dưới mặt nước, được trang bị những vũ khí và phương tiện truyền thông ưu việt hơn và đặc biệt là có khả năng tấn công khai hỏa ngay trong lòng biển. Elektroboat được xem là phiên bản đầu tiên của các thế hệ tàu ngầm hiện đại ngày nay.

Tuy nhiên, nước Đức không còn thời gian để triển khai phát minh mới của mình. Tháng 6.1944, quân Đồng minh tiến chiếm Pháp, buộc tàu ngầm Đức ở các hải cảng phải tháo chạy về căn cứ ở Đức hoặc Na Uy. Nhiều tàu Elektroboat bị đánh đắm ngay tại cảng. Một số chạy thoát được, song cơ số quá ít, không đủ để tạo khác biệt để xoay chuyển cuộc chiến. Chiến công cuối cùng được ghi nhận của “bầy sói” là trận đánh từ tháng 6 đến tháng 8.1944 tại biển Normandy. 5 chiến đấu hạm, 12 tàu hàng và 12 tàu đổ bộ của quân Đồng minh bị đánh chìm trong kế hoạch tiến chiếm bờ biển này trong khi phía Đức cũng thiệt hại mất 20 tàu ngầm.

Từ đây, khả năng thủ thắng của “bầy sói” trên Đại Tây Dương được xem là vô vọng. Họ không thể cứu vãn nước Đức. Hồng quân Liên Xô và quân Anh, Mỹ như hai gọng kìm tiến về Berlin từ hai hướng đông, tây. 15 giờ 14 phút ngày 4.5.1945, Donitz lên đài phát thanh kêu gọi đầu hàng. Tất cả tàu ngầm Đức được lệnh treo cờ đen, cập cảng gần nhất của quân Đồng minh để đầu hàng. Tuy nhiên, có đến 7 tàu ngầm cập cảng trung lập và 221 tàu ngầm bỏ trốn.

Nhìn toàn cuộc, 1.155 tàu ngầm Đức được tung vào cuộc chiến, trong đó có 725 chiếc bị đánh chìm. Trong 6 năm, hơn 35.000 thủy thủ Đức lao vào cuộc chiến sống còn trên biển và 28.744 người không bao giờ trở về - tỷ lệ thiệt mạng 82% được xem là cao nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại.

Sự phát triển của tàu ngầm hiện đại

 U.S.S George Washington - chiếc tàu ngầm đầu tiên thử nghiệm thành công việc phóng tên lửa từ lòng biển - Ảnh: Aerospaceweb.org
U.S.S George Washington - chiếc tàu ngầm đầu tiên thử nghiệm thành công việc phóng tên lửa từ lòng biển - Ảnh: Aerospaceweb.org

Chiếc tàu ngầm đầu tiên lâm chiến năm 1776 được phát minh vào năm 1773 bởi kỹ sư Mỹ David Bushnell. Tàu này nhỏ, hình quả trứng được chế tạo bằng gỗ và thủy thủ đoàn chỉ có 1 người. Mỗi lần lặn, người thủy thủ này phải dùng tay bơm nước vào trong tàu, và bơm ra mỗi khi muốn trồi lên mặt biển. Nhiều phát minh của Bushnell sau đó được một kỹ sư hàng hải Mỹ khác là Robert Fulton vận dụng để chế tạo thế hệ tàu ngầm Nautilus, được đưa vào vận hành thành công năm 1800 trên sông Seine và tại La Havre khi lặn được đến 6 giờ.

John Holland và Simon Lake được xem là có công phát triển tàu ngầm hiện đại tại Mỹ. Một trong những tàu ngầm Holland phát minh di chuyển trên mặt nước bằng xăng và khi lặn thì sử dụng mô-tơ được vận hành bằng pin. Chiếc tàu này dài 16 mét với thủy thủ đoàn 6 người, có khả năng đạt tốc độ 6 knot (1 knot = 1,852 km/giờ) và năm 1900, nó trở thành tàu ngầm đầu tiên của hải quân Mỹ.

Năm 1912, E-boat – tàu ngầm diesel đầu tiên của Mỹ hạ đốc, dài 41 mét với 23 thủy thủ và là chiếc tàu ngầm đầu tiên vượt Đại Tây Dương thành công. Tàu ngầm tiếp tục phát triển nhanh và được cả hai phe tham chiến đưa vào sử dụng trong Đệ nhất thế chiến. Đầu tiên, người Đức sử dụng loại tàu tải trọng 200 tấn (U-boat), sau đó họ triển khai loại 2.100 tấn được trang bị đến 19 quả ngư lôi trong Đệ nhị thế chiến.

Mẫu tàu ngầm điển hình của hải quân Mỹ ở Đệ nhị thế chiến có trọng tải 1.450 tấn, dài 91 mét với thủy thủ đoàn 55 người. Tàu ngầm này chạy bằng động cơ diesel (khi nổi), đạt tốc độ 17 knot và mô-tơ điện (khi lặn), đạt tốc độ 8 knot. Tàu được trang bị 1 khẩu 76 li, nhiều súng máy và 10 ống phóng ngư lôi 530 li.

Với sự phát triển của năng lượng nguyên tử, tàu ngầm bước qua một thay đổi lớn trong việc vận hành và tấn công. Tàu ngầm hạt nhân được trang bị một lò phản ứng nhiệt hạch truyền động cho turbine. Chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên, theo The Columbia Electronic Encyclopedia, là chiếc U.S Nautilus, hạ thủy năm 1954. Tàu hạt nhân có thể đạt tốc độ hơn 30 knot dưới mặt nước, hoạt động sâu dưới biển trong thời gian gần như không giới hạn và có thể đi vòng quanh trái đất không cần trồi lên mặt biển. Năm 1960, chiếc U.S.S George Washington là tàu ngầm đầu tiên bắn hỏa tiễn thành công từ lòng biển. Cũng năm này, chiếc U.S.S Triton trở thành tàu ngầm đầu tiên đi vòng quanh trái đất mà không cần lộ diện trên mặt biển. Việc phát minh ra hệ thống phóng tên lửa dưới lòng biển đã đem lại vai trò rất quan trọng cho tàu ngầm. Vai trò đó không chỉ đơn thuần là việc đánh hạ chiến thuyền đối phương mà với thế hệ tàu ngầm chiến thuật được trang bị tên lửa hành trình (có thể gắn đầu đạn hạt nhân), nó có thể nằm ẩn ở một góc nào đó trên đại dương và tấn công các mục tiêu chiến thuật sâu trong đất liền như tàu ngầm Mỹ đã từng làm ở chiến tranh vùng Vịnh.

Lê Huỳnh Lê

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.