Năm 1942, công suất đóng tàu của các nước Đồng minh đạt đến đỉnh điểm. Anh, Canada và Mỹ có đủ lượng tàu hộ tống an toàn các đoàn tàu hàng từ đầu đến cuối. Sự “dư dả” của phe Đồng minh giúp khu trục hạm không còn đơn thuần giữ nhiệm vụ bảo vệ. Trái lại, cùng với sự phát triển của vũ khí và radar, khu trục hạm bắt đầu phối hợp với không quân (phi cơ trang bị rocket) triển khai săn lùng ngay sau khi phát hiện sự có mặt của tàu ngầm.
Đến tháng 1.1943, các cuộc chạm trán giữa “bầy sói” và các đoàn tàu hàng không còn đem lại kết quả vui vẻ cho người Đức. Một hải đội gồm 5 tàu ngầm vây đánh đoàn tàu HX224 bao gồm 57 chiếc nhưng chỉ đánh đắm được 3 trong khi bị tổn thất mất 2. Tháng 2.1943, 16 tàu ngầm Đức vây đánh đoàn tàu SC118 gồm 63 chiếc trong trận chiến Donitz – lúc này đã được tấn phong Đại đô đốc, gọi là “trận đánh khó khăn nhất trong suốt cuộc chiến”, với kết quả Đức đánh chìm 12 tàu Đồng minh song cũng thiệt hại mất 3 tàu ngầm và 2 tàu khác bị hư hỏng nặng. Đây không phải là tỷ lệ đánh đổi có lợi cho hải quân Đức.
Tháng 5.1943 có thể xem là điểm xoay của cuộc chiến. Ngày 4.5, đoàn tàu ONS5 đi thẳng vào khu vực “bầy sói” kiểm soát. Cuộc đọ súng kéo dài 3 đêm liền, 41 tàu ngầm Đức vây đánh đắm 12 tàu của quân Đồng minh, song đổi lại, họ cũng trả giá bằng 7 tàu ngầm bị đánh chìm và 3 chiếc khác bị hỏng. Ngày 11.5, hải quân Đồng minh chủ động mở đợt tấn công, lần này đoàn tàu HX237 đánh chìm 3 tàu ngầm Đức mà không hề có tổn thất. Trong tháng này, thêm 4 đoàn tàu bị “bầy sói” tấn công, song phía Đồng minh chỉ mất 3 tàu trong khi họ tiêu diệt được 5 tàu ngầm đối phương.
|
|
Chung cuộc, chỉ trong tháng 5.1943, Đức mất đến 41 tàu ngầm và hơn 1.000 thủy thủ đoàn - một tỷ lệ đáng báo động. Nhiều người trong số họ là những sĩ quan kỳ cựu đầy kinh nghiệm, không thể thay thế trong một sáng một chiều. Bản thân con trai vị đô đốc cũng mất mạng chung với chiếc U-954 trong trận đánh đoàn tàu SC130 ngày 19.5. Ngày 24.5, Donitz thú nhận: “Chiến thuật dùng “bầy sói” tấn công các đoàn tàu trên Đại Tây Dương giờ đây không còn hiệu quả”. Ông quyết định rút lượng tàu ngầm còn lại về vùng biển an toàn và chỉ giữ lại một cơ số ít để nghi binh xem như vẫn còn sự hiện diện của “bầy sói” trên Đại Tây Dương. Lúc này, Donitz vẫn chưa tin thắng bại đã phân và cho rằng tàu ngầm Đức cần phải cải tiến thêm kỹ thuật mới cạnh tranh nổi với sự vượt trội của quân Đồng minh. Ông giành được sự ủng hộ để phát triển một thế hệ tàu ngầm mới có tên gọi là Elektroboat, có khả năng hoạt động nhiều tuần liền dưới mặt nước, được trang bị những vũ khí và phương tiện truyền thông ưu việt hơn và đặc biệt là có khả năng tấn công khai hỏa ngay trong lòng biển. Elektroboat được xem là phiên bản đầu tiên của các thế hệ tàu ngầm hiện đại ngày nay.
Tuy nhiên, nước Đức không còn thời gian để triển khai phát minh mới của mình. Tháng 6.1944, quân Đồng minh tiến chiếm Pháp, buộc tàu ngầm Đức ở các hải cảng phải tháo chạy về căn cứ ở Đức hoặc Na Uy. Nhiều tàu Elektroboat bị đánh đắm ngay tại cảng. Một số chạy thoát được, song cơ số quá ít, không đủ để tạo khác biệt để xoay chuyển cuộc chiến. Chiến công cuối cùng được ghi nhận của “bầy sói” là trận đánh từ tháng 6 đến tháng 8.1944 tại biển Normandy. 5 chiến đấu hạm, 12 tàu hàng và 12 tàu đổ bộ của quân Đồng minh bị đánh chìm trong kế hoạch tiến chiếm bờ biển này trong khi phía Đức cũng thiệt hại mất 20 tàu ngầm.
Từ đây, khả năng thủ thắng của “bầy sói” trên Đại Tây Dương được xem là vô vọng. Họ không thể cứu vãn nước Đức. Hồng quân Liên Xô và quân Anh, Mỹ như hai gọng kìm tiến về Berlin từ hai hướng đông, tây. 15 giờ 14 phút ngày 4.5.1945, Donitz lên đài phát thanh kêu gọi đầu hàng. Tất cả tàu ngầm Đức được lệnh treo cờ đen, cập cảng gần nhất của quân Đồng minh để đầu hàng. Tuy nhiên, có đến 7 tàu ngầm cập cảng trung lập và 221 tàu ngầm bỏ trốn.
Nhìn toàn cuộc, 1.155 tàu ngầm Đức được tung vào cuộc chiến, trong đó có 725 chiếc bị đánh chìm. Trong 6 năm, hơn 35.000 thủy thủ Đức lao vào cuộc chiến sống còn trên biển và 28.744 người không bao giờ trở về - tỷ lệ thiệt mạng 82% được xem là cao nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại.
|
Sự phát triển của tàu ngầm hiện đại
Chiếc tàu ngầm đầu tiên lâm chiến năm 1776 được phát minh vào năm 1773 bởi kỹ sư Mỹ David Bushnell. Tàu này nhỏ, hình quả trứng được chế tạo bằng gỗ và thủy thủ đoàn chỉ có 1 người. Mỗi lần lặn, người thủy thủ này phải dùng tay bơm nước vào trong tàu, và bơm ra mỗi khi muốn trồi lên mặt biển. Nhiều phát minh của Bushnell sau đó được một kỹ sư hàng hải Mỹ khác là Robert Fulton vận dụng để chế tạo thế hệ tàu ngầm Nautilus, được đưa vào vận hành thành công năm 1800 trên sông Seine và tại La Havre khi lặn được đến 6 giờ. |
Lê Huỳnh Lê


Bình luận (0)