Điều may mắn nhất của NSND Viễn Châu là được học chữ Quốc ngữ ở trường làng, đồng thời học chữ Nho với nhiều thầy đồ giỏi nên ngôn ngữ của ông vô cùng phong phú.
NSND Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh năm 1924 tại Trà Vinh (cũ), trong một gia đình có địa vị (cha ông giữ chức hương cả) nên ông được sống đầy đủ, ăn học tử tế.
Vốn liếng ngôn ngữ được tích lũy từ lúc nhỏ cho tới lớn, trở thành kho tàng quý giá mà không phải ai cũng có được. Đồng thời triết lý Nho giáo thấm đẫm khiến ông có phong thái, nhân cách vừa hiện đại vừa truyền thống, nghiêm cẩn, tôn ti, ung dung, trượng phu, quân tử… Viễn Châu nhận lấy những tinh hoa để rồi thăng hoa thành một tượng đài mà nhiều người cho rằng có khi hàng trăm năm mới xuất hiện.

NSND Viễn Châu
ẢNH: Minh Châu
Viễn Châu đem tất cả cốt cách ấy vào tiếng đàn của mình. Ông mê đàn từ nhỏ, theo học và chơi được nhiều nhạc cụ như đàn tranh, vĩ cầm, guitar; chơi được cả tân nhạc lẫn nhạc cổ, nhưng giỏi nhất là đàn tranh và cổ nhạc, sau này trở thành danh cầm Bảy Bá lừng lẫy đất Sài Gòn.
Không chỉ giỏi cổ nhạc, Viễn Châu còn viết văn, làm thơ, sáng tác kịch bản. Năm 1942 ông từng viết truyện ngắn và thơ đăng trên báo Dân mới, Tổng xã mới. Về sau ông viết bài vọng cổ, kịch bản cải lương, đúng nghĩa là văn chương thi phú vẹn toàn. Cũng năm 1942, ông đã cộng tác với Đài phát thanh Pháp Á Sài Gòn trong Ban Cổ nhạc, đến 1943 lại tham gia đoàn cải lương Tố Như và đoàn cải lương Năm Châu ra tận Hà Nội lưu diễn, học hỏi những đàn anh lừng lẫy như Năm Châu, Trần Hữu Trang, Lê Hoài Nở, Duy Lân… làm giàu thêm hành trang nghệ thuật của mình.
LÊN Sài Gòn VÀ HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN
Nhưng rồi ông buộc phải xa rời mảnh đất Trà Vinh mãi mãi, khi tiếng súng của quân Pháp nổ ra vào năm 1945 tái chiếm Đông Dương. Lúc đó Viễn Châu tham gia kháng chiến với vở cải lương đầu tay Hồn chiến sĩ được nhân dân đón nhận. Năm 1946, quân Pháp giết anh ruột của ông rồi càn quét truy tìm những người tham gia kháng chiến, buộc Viễn Châu phải rời hẳn quê nhà lên Sài Gòn sinh sống.
Nơi nương tựa của Viễn Châu chính là đoàn cải lương Năm Châu, vì lúc đó NSND Nguyễn Thành Châu cũng là dân kháng chiến bí mật hoạt động nội thành, và ông lập đoàn cải lương để vừa làm nghệ thuật vừa có nơi che chở cho anh em đồng chí. Viễn Châu vào đoàn với vai trò nhạc sĩ và cũng hoạt động kháng chiến, rồi bị Pháp bắt giam, đến 1949 mới được thả ra.

NSND Viễn Châu và bà bầu Kim Chưởng lừng lẫy một thời
ẢNH: H.K
Ông lại trở về với đoàn Năm Châu, lúc đó đổi tên thành đoàn Con Tằm. Năm 1950 ông viết kịch bản cải lương Nát cánh hoa rừng với bút danh chính thức là Viễn Châu. Chữ Viễn có nghĩa là xa cách, còn Châu là tên xã Đôn Châu nơi ông chào đời. Như vậy, có một danh cầm đàn tranh Bảy Bá và một soạn giả Viễn Châu bắt đầu bừng sáng ở Sài Gòn. Ông (Bảy Bá - đàn tranh) hợp cùng với danh cầm Văn Vĩ (đàn guitar phím lõm), Năm Cơ (đàn kìm) trở thành bộ ba nức tiếng ở Sài Gòn.
VIẾT ĐÂU THẮNG ĐÓ
Thật sự đoàn Con Tằm cũng là một đại ban, nên khi Nát cánh hoa rừng bán vé rần rần chinh phục khán giả thì Viễn Châu lọt vào mắt xanh của các đại ban khác. Sau này kịch bản của ông rải khắp các đoàn Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Thanh Tao, Út Trà Ôn, Tân Hoa Lan… Chưa kể các hãng đĩa mời ông thu bài tới tấp như hãng Việt Nam, Kim Long, Việt Hải, Thăng Long, Sống Mới…
Lúc sinh thời NSND Út Trà Ôn từng nói: "Viễn Châu viết kịch bản chỉn chu lắm, ít khi phải sửa tới sửa lui, và viết một cách dung dị nên khán giả xem dễ đi vào lòng". Bà Sáu Liên, Giám đốc hãng đĩa VN trước đây cũng nhận định: "Ông mát tay vô cùng, viết đâu thắng đó, đem lại lợi nhuận cho các hãng, tài hoa ấy không thể nào phủ nhận".
Sau năm 1975, Viễn Châu vẫn sung sức, cộng tác với đoàn Văn công TP.HCM và rất nhiều đoàn cải lương tỉnh, thu âm đều đặn cho các hãng đĩa. Thậm chí khi người viết bài này đến nhà thăm lúc ông bệnh nhiều, không còn đi đứng dễ dàng được nữa, thấy ông vẫn có giấy bút ngay bên cạnh để lúc nào nghĩ ra chữ gì là ghi ngay lại. Giới nghệ sĩ truyền tai nhau câu ông dặn con trai: "Khi ba chết, nhớ để vô quan tài một mớ giấy bút để ba xuống dưới đó mà viết vọng cổ".
Ông qua đời năm 2016, thọ 92 tuổi. Một con tằm nhả tơ đến giây phút cuối cùng không hề mệt mỏi. (còn tiếp)
Bình luận (0)