Chiều hôm qua 18.9, bà (tên đầy đủ là Trần Thị Kim Phượng) gọi cho chúng tôi và nói vừa mới nhận được quyết định giám đốc thẩm của TAND tối cao. Và ngay trong buổi chiều, từ Long An bà đã vượt hành trình hàng chục km bằng xe gắn máy tìm đến tòa soạn để cung cấp “tin vui” của bà cho chúng tôi. Quyết định giám đốc thẩm dài 7 trang, trong đó phần “quyết định” chỉ vỏn vẹn có 5 dòng: Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 128/2007/DSPT ngày 25.1.2007 của TAND TP.HCM và bản án dân sự sơ thẩm số 312/2006/DSST ngày 28.7.2006 của TAND Q.Gò Vấp để xét xử sơ thẩm lại “theo đúng quy định của pháp luật”. Nhưng nếu ai theo dõi sát sao câu chuyện này thì sẽ hiểu một cuộc “lật ngược thế cờ” chưa từng có trong lịch sử án dân sự!
Từ quan hệ luật sư - thân chủ
Đầu năm 2003, sau khi chồng chết, bà Phượng nhờ luật sư Vương Trọng Vĩnh (thuộc Đoàn luật sư TP.HCM) làm người đại diện cho mình trong vụ tranh chấp về thừa kế ở TAND Q.Gò Vấp. Và từ sự kiện ấy đã dẫn dắt đến cuộc hành trình kéo dài hơn 3 năm của vụ kiện hy hữu mà các cơ quan ngôn luận đã tốn không ít giấy mực với tên gọi “vụ án luật sư kiện thân chủ”
Quyết định giám đốc thẩm, ngay phần “nhận thấy” cũng đã nêu: Theo đơn khởi kiện đề ngày 20.1.2006, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì ngày 19.3.2003, bà Trần Thị Kim Phượng có viết giấy vay tiền trong đó có nội dung “Tôi có vay của ông Vương Trọng Vĩnh số tiền là 400.000.000 đồng với lãi suất 1% tháng; trong vòng một năm tôi sẽ thanh toán và trả hết lãi... Tôi đã nhận đủ 400.000.000 đồng của ông Vương Trọng Vĩnh giao và xác nhận đã đếm đủ (tất cả là loại giấy bạc 50.000 VNĐ)”. Giấy vay tiền này có dấu điểm chỉ và chữ ký mà theo ông Vĩnh khai là của bà Phượng nhưng đến nay bà Phượng chưa trả cho ông tiền vốn và lãi suất. Nay ông Vĩnh yêu cầu bà Phượng phải trả cho ông 400.000.000 đồng tiền vốn và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Nhưng bà Phượng nói bà không có vay mượn tiền của ông Vĩnh; chữ viết và chữ ký trong giấy vay tiền do ông Vĩnh cung cấp cho tòa án không phải là của bà. Bà không chấp nhận yêu cầu đòi nợ của ông Vĩnh và đề nghị tòa án cho giám định chữ viết và chữ ký tại giấy vay tiền này. Bà chỉ thừa nhận là có viết giấy khống 300.000.000 đồng do ông Vĩnh ép phải viết, với thỏa thuận là ông Vĩnh sẽ lo tất cả cho bà trong vụ tranh chấp thừa kế tài sản của chồng để lại.
Luật sư kiện + tòa án xử = sai pháp luật!
Thụ lý vụ án do ông Vĩnh kiện, TAND Q.Gò Vấp ngay lập tức áp dụng biện pháp khẩn cấp, kê biên căn nhà A15 đường Quang Trung, P.12, Q.Gò Vấp “để đảm bảo thi hành án”. Sau đó, tại bản án 312/2006/DSST như đã nêu trên, TAND Q.Gò Vấp tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn (tức ông Vĩnh), buộc bà Phượng phải trả cho ông Vĩnh tổng cộng cả vốn và lãi vay hơn 533 triệu đồng.
Sau khi bà Phượng kháng cáo, tại bản án phúc thẩm số 128/2007/DSPT, TAND TP.HCM tiếp tục tuyên xử y án sơ thẩm, buộc bà Phượng trả cho ông Vĩnh tổng cộng hơn nửa tỉ đồng như đã nêu.
Và ngay sau khi án có hiệu lực, Cơ quan thi hành án Q.Gò Vấp tiến hành đưa căn nhà A15 đường Quang Trung ra bán đấu giá để thi hành án. Ông Nguyễn Quang D., một cá nhân mua trúng đấu giá căn nhà này và đã nộp tiền vào kho bạc. Tuy nhiên nhiều tình huống “éo le” mà có lẽ không ai trong những người có liên quan đến vụ kiện này ngờ được đã liên tiếp xuất hiện.
Về thủ tục tố tụng, cả 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm của TAND Q.Gò Vấp và TAND TP.HCM đều vi phạm nghiêm trọng. Cụ thể sau khi phân tích các tình tiết liên quan, quyết định giám đốc thẩm nêu: “Có căn cứ để xác định Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm khi tiến hành trưng cầu giám định đã không tuân thủ đúng thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và quy định của Pháp lệnh giám định tư pháp. Do vi phạm thủ tục tố tụng này nên đã ảnh hưởng đến việc xác định giá trị pháp lý của các kết luận giám định mà các cơ quan giám định đã tiến hành và việc Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm dựa vào giấy vay tiền ghi ngày 19.3.2003 và các kết luận giám định của cơ quan giám định để buộc bà Phượng phải trả tiền vay và lãi suất phát sinh trên số tiền vay cho ông Vĩnh là chưa có căn cứ”.
Đâu là sự thật?
Về nội dung 2 bản án nói trên, quyết định giám đốc thẩm phân tích rằng cả bà Phượng và ông Vĩnh đều thừa nhận có việc bà Phượng nhờ ông Vĩnh làm đại diện trong vụ tranh chấp thừa kế, theo đó ông Vĩnh sẽ được hưởng thù lao do bà Phượng trả gồm 30 triệu đồng và 30% phần giá trị tài sản mà bà Phượng sẽ được hưởng khi tòa án giải quyết xong.
Về giấy vay tiền, bà Phượng nói là giấy giả tạo và chỉ thừa nhận có ký khống với lý do trước đó đã thỏa thuận với ông Vĩnh về hưởng thù lao, thực tế là không nhận tiền vay của ông Vĩnh. Còn ông Vĩnh thì nói giấy vay tiền “hoàn toàn độc lập” với hợp đồng thù lao bồi dưỡng mà ông với bà Phượng thỏa thuận.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cả bà Phượng và ông Vĩnh đều có những lời khai và trình bày khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau nhưng chưa được tòa án sơ thẩm và phúc thẩm xác minh làm rõ. Mặt khác, trong hồ sơ vụ án còn có đĩa ghi âm, do bà Phượng chủ động ghi lại các cuộc trao đổi điện thoại giữa bà và ông Vĩnh sau khi vụ tranh chấp thừa kế được TAND Q.Gò Vấp giải quyết xong. Vì nội dung các cuộc điện thoại này có liên quan đến nội dung tranh chấp giữa bà Phượng và ông Vĩnh về việc vay tiền, việc thực hiện hợp đồng thù lao bồi dưỡng..., nên cần thiết phải tiến hành trưng cầu giám định theo yêu cầu của đương sự đối với toàn bộ nội dung băng ghi âm. Điều này nhằm làm rõ việc trao đổi của ông Vĩnh và bà Phượng liên quan đến giao dịch vay tiền ghi ngày 19.3.2003 là giao dịch độc lập hay là giao dịch giả tạo để che giấu cho khoản thù lao mà bà Phượng hứa trả cho ông Vĩnh?
Trên thực tế nếu chỉ là việc “hứa trả thù lao” thì vấn đề hoàn toàn khác, bởi trước khi kết thúc vụ tranh chấp thừa kế, bà Phượng đã bãi miễn ông Vĩnh với tư cách là luật sư đại diện cho mình. Và trong tương lai cũng không loại trừ khả năng cơ quan bảo vệ pháp luật phải vào cuộc để làm rõ những vấn đề mà tố tụng dân sự không giải quyết được.
Võ Khối
Bình luận (0)