Nguồn lây
Tả là một bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc, dễ gây thành dịch, do phẩy khuẩn Vibrio Cholerac gây ra. Bệnh chỉ xảy ra ở người. Nguồn bệnh là người bệnh hoặc người lành mang mầm bệnh tả trong phân. Trong phân người bệnh, thời kỳ ủ bệnh đã có vi khuẩn. Phẩy khuẩn tả tồn tại trong phân người bệnh khoảng 17 ngày, nếu được điều trị kháng sinh sẽ hết nhanh trong vòng 2 - 6 ngày.
Đường lây bệnh qua miệng. Nước là nguồn lây quan trọng, kế đến là thức ăn không đảm bảo vệ sinh, thức ăn chưa qua nấu chín...
Biểu hiện
Thời kỳ nung bệnh từ vài giờ đến 5 ngày, trung bình 36 - 48 giờ, tối đa 9 - 10 ngày. Thời kỳ khởi phát, người bệnh thường có sốt nhẹ, gai rét, lạnh đầu chi, bắt đầu tiêu lỏng. Thời kỳ toàn phát có những dấu hiệu rõ rệt: tiêu lỏng nhiều nước, đi nhiều lần, phân có màu trắng đục, lợn cợn, mùi tanh nồng, nôn (do tác động của độc tố và toan máu), mất nước, điện giải khiến cơ thể suy sụp, da khô, độ chun dãn của da giảm, mắt trắng, môi khô, mắt lờ đờ, tiểu ít hoặc vô niệu (không có nước tiểu), có biểu hiện sốc, giảm khối lượng tuần hoàn, dễ tử vong.
Theo y học cổ truyền
Theo y học cổ truyền, tả (hay còn gọi là "hoắc loạn") là hội chứng đi tiêu, mửa phát cấp bách, đau bụng, trên nôn dưới đi tiêu rất dữ dội, có thể nguy hiểm trong chốc lát. Y học cổ truyền chỉ điều trị những trường hợp thông thường hoặc ở nơi vùng sâu, vùng xa. Còn những trường hợp nguy cấp nên đến bệnh viện để cấp cứu kịp thời.
|
Để phòng bệnh tả, cần giữ gìn vệ sinh trong ăn uống. Không dùng thức ăn đường phố; khi có dấu hiệu mắc bệnh tả phải báo ngay cho cơ sở y tế để được điều trị kịp thời, vệ sinh môi trường và cách lý đề phòng lan thành dịch. |
Thổ tả vì hàn: Biểu hiện: đi tiêu và nôn ói dữ dội, lúc đầu có ra ít phân, sau ra toàn nước như nước gạo, không hôi lắm, chân tay lạnh, ngực buồn tức, rêu lưỡi trắng nhờn. Phép chữa ở trường hợp này là tán hàn, trừ thấp, ôn trung (làm tan hàn, trừ thấp, ấm tỳ vị). Bài thuốc dùng gồm: trần bì (bỏ vỏ trắng, sao) 20g, hoắc hương 40g, cho vào ấm, cùng 350ml nước, sắc còn 120ml, người lớn uống 1 lần, trẻ em chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
Thổ tả vì nhiệt: Biểu hiện, thổ tả, đau đầu, phát nóng, khát nước, nước tiểu vàng, rêu lưỡi vàng. Bài thuốc dùng gồm: củ sắn dây 40g, cơm gạo tẻ (sao vàng) 30g, rau má tươi 40g, tinh tre 20g, gừng tươi 4g. Cho tất cả vào ấm cùng 600ml nước, sắc còn 300ml. Người lớn chia 2 lần uống, trẻ em tùy tuổi, chia 3 - 4 lần uống. Cách 2 giờ uống 1 lần.
Thể can hoắc loạn: Biểu hiện đau bụng xoắn, muốn mửa không mửa, muốn tiêu không tiêu được, người vật vã, sắc mặt xanh xám, chân tay lạnh, mồ hôi ra trên đầu, mạch trầm phục, bệnh rất nguy hiểm. Bài thuốc dùng gồm: hoắc hương 40g, hậu phác (sao thơm) 20g, trần bì (sao thơm) 20g, vỏ rụt (nam mộc hương) 30g. Cho các vị vào ấm cùng 600ml, sắc lấy 250ml. Người lớn chia 2 lần uống trong ngày; trẻ em tùy tuổi chia 3 - 4 lần uống.
Nếu đi tiêu, nôn ói nhiều, mất nước, chuột rút thì lấy mộc qua 12g, đổ 200ml nước, sắc lấy 100ml cho uống.
Thanh Tùng
Bình luận (0)