Phụ nữ độc thân dễ bị UT vú
Ở phần lớn các nước, tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh UT vú gia tăng đều đặn mỗi năm, đây là căn bệnh phụ nữ các nước Tây u và Mỹ mắc nhiều nhất. Tính chung trên toàn thế giới, UT vú ở phái nữ được xếp hàng đầu. Số trường hợp UT vú mắc mới hằng năm vượt trên con số 1 triệu người, trong đó, số tử vong do UT vú mỗi năm lên đến hơn 500 ngàn người.
Thống kê tại Mỹ, mỗi năm có gần 200 ngàn phụ nữ bị UT vú và trên 40 ngàn người chết do loại UT này. Còn tại Việt Nam, ở Hà Nội tỷ lệ bình quân là 21 trường hợp UT vú mắc mới mỗi năm/100 ngàn người, ở TP.HCM là 17 trường hợp UT vú mới/100 ngàn phụ nữ. UT vú đứng hàng thứ hai ở TP.HCM và các tỉnh phía Nam, chỉ sau UT cổ tử cung. Bình quân, hằng năm, Bệnh viện (BV) Ung bướu TP.HCM tiếp nhận điều trị cho hơn 2 ngàn ca UT vú (số mắc mới). Còn ở BV K (Hà Nội), số bệnh nhân UT vú đến khám và điều trị tại đây trong năm 2004 lên đến 1.521 ca.
Bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng - Giám đốc BV Ung bướu (TP.HCM) cho biết: "Trong số phụ nữ bị UT vú đến khám, điều trị tại BV Ung bướu (TP.HCM), số ca ở giai đoạn I (giai đoạn sớm) chiếm 10%, giai đoạn II 60%, giai đoạn III 25% và giai đoạn IV (giai đoạn cuối) chiếm 5%. Phụ nữ từ 35 - 55 tuổi là đối tượng thường mắc phải. Phần lớn chị em tự phát hiện bệnh khi thấy có một cục u nổi cộm trong vú nhưng không thấy đau, hoặc qua việc kiểm tra sức khỏe tổng quát". Còn tại BV K (Hà Nội), trong số 1.521 ca UT vú đến khám, chữa trị trong năm 2004 có đến 2/3 đã ở giai đoạn III và IV (giai đoạn muộn).
Hiện nguyên nhân gây UT vú vẫn chưa được xác định rõ ràng, tuy nhiên, có những yếu tố nguy cơ đó là: phụ nữ trên 35 tuổi; phụ nữ sống độc thân; có ít con hoặc có con đầu lòng muộn (sau 30 tuổi); người béo phì; phụ nữ có mẹ hay chị, em bị UT vú; người có kinh sớm (lúc 12, 13 tuổi), hay mãn kinh muộn (sau 55 tuổi)... là những đối tượng dễ bị UT vú. Tiếp xúc thường xuyên với hắc ín, phẩm nhuộm, kim loại nặng, thuốc trừ sâu... sẽ làm tăng nguy cơ UT vú. Ngày nay, các nhà khoa học còn ghi nhận, có từ 5 - 10% phụ nữ bị UT vú là do mang gien di truyền (BRCA1, BRCA2)... Và có đến 80% trường hợp UT có liên quan đến môi trường sống (như: chế độ ăn uống; thói quen sinh hoạt hằng ngày...). Chế độ ăn uống có liên quan đến UT khoảng 40%, điển hình là liên quan đến UT vú và UT đại trực tràng. Do vậy, các bác sĩ khuyên nên ăn những thực phẩm tươi từ môi trường tự nhiên. Cần hạn chế thức ăn đóng hộp; sấy khô; hun khói; tránh các loại thực phẩm có dùng thuốc kích thích tăng trưởng, phẩm nhuộm, hóa chất...
UT vú có thể chữa lành
Theo bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn I và II thì có rất nhiều cơ may chữa khỏi. Cụ thể, bệnh ở giai đoạn I, nếu được điều trị đúng, tích cực thì kết quả lành bệnh đạt từ 80 - 90%; bệnh ở giai đoạn II có khả năng trị lành từ 70 - 80%; nếu bệnh ở giai đoạn III thì việc điều trị khó khăn hơn nhưng vẫn chưa phải tuyệt vọng; đối với giai đoạn IV, kết quả điều trị sẽ bị hạn chế, tuy nhiên nhờ những tiến bộ hiện nay, nên việc điều trị cho kết quả khá hơn so với trước đây. Hiện, một số BV trong nước đã trang bị các phương tiện tương đối đầy đủ để phát hiện và điều trị bệnh UT. Đặc biệt, BV K (Hà Nội) và BV Ung bướu TP.HCM gần như đã có đủ "vũ khí" điều trị bệnh UT. Vấn đề quan trọng là sự hiểu biết và quan tâm đến bệnh tật của người dân, nhằm phát hiện bệnh sớm.
Với những tiến bộ hiện nay có thể giúp chị em giữ nguyên "vóc dáng" bộ ngực. Những trường hợp UT vú phát hiện sớm, bác sĩ sẽ mổ bảo tồn tuyến vú, phối hợp với xạ trị. Bác sĩ chuyên khoa có thể lấy toàn bộ tuyến vú (đoạn nhũ) và làm lại ngực mới (tái tạo vú tức thì), sau cuộc mổ, tỉnh lại, người bệnh thấy có bộ ngực mới!
Tự kiểm tra vú để phát hiện sớm UT
Theo bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, UT vú là loại UT không có những biểu hiện triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, đây là bệnh có thể phát hiện sớm, bằng những cách sau:
- Phụ nữ (từ 35 tuổi trở đi) cần đi khám kiểm tra vú định kỳ (6 tháng hoặc 1 năm/lần). Những chị em có nguy cơ cao thì thời gian kiểm tra định kỳ rút ngắn theo chỉ định của bác sĩ. Chụp nhũ ảnh (X-quang vú), giúp phát hiện bệnh sớm lúc chưa hoặc có ít triệu chứng. Chị em có nguy cơ cao cần chụp hằng năm từ tuổi 40. Trước 40 tuổi, không nên chụp nhũ ảnh nếu chưa có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.
- Tự khám ngực: đây là việc cần làm từ lúc còn là con gái 18 - 20 tuổi, không mất nhiều thời gian. Nếu phát hiện trong vú có một cục u cứng không đau thì cần đi bác sĩ khám.
Cần tự khám mỗi tháng một lần, sau khi sạch kinh khoảng một tuần. Cách khám như sau: ở trần đứng trước gương, hai tay thả thẳng xuống dọc hai bên hông, quan sát hai vú. Sau đó đổi tư thế cho hai tay ra sau mông, nghiêng nhẹ người ra trước, quan sát xem hai vú có sự thay đổi về kích cỡ, màu da hay không, núm vú có bị lệch hoặc thụt vào trong không; nằm ngửa, kê gối dưới vai bên phải, tay phải để sau ót, xòe thẳng bàn tay trái để ép sát tuyến vú vào thành sườn, không được bỏ sót phần nào của vú, để xem có cục u bướu hay không. Tương tự, đổi tư thế để kiểm tra vú còn lại. Sau đó là sờ vùng nách để xem có hạch không?... Không hoảng sợ khi phát hiện cục u trong vú, nhưng cũng không thờ ơ trước một cục u không gây đau nhức, mà cần đi bác sĩ khám chuyên khoa để siêu âm, chụp nhũ ảnh, thử tế bào. Thường, đó chỉ là một bướu lành - một thay đổi sợi bọc (rất lành), hoặc một chỗ dày lên của vú.
Tuyệt đối không được làm một số cách truyền miệng như: đắp thuốc, đắp lá (cây cỏ mực, vòi voi, đu đủ...), sẽ làm bệnh trầm trọng thêm, rất nguy hiểm, làm mất cơ hội vàng chữa trị sớm.
Hạ Mai
Bình luận (0)