Ngày 7.8.1989, Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu có các cuộc đối thoại chính thức đầu tiên về vấn đề Campuchia tại trụ sở LHQ. Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã có một số cuộc gặp với Ngoại trưởng Mỹ James Baker.
Từ ngày 27 - 29.9.1990, hai ông Nguyễn Cơ Thạch và James Baker tiếp tục gặp nhau và đây là cuộc gặp cấp cao chính thức đầu tiên giữa hai chính phủ kể từ sau Hiệp định Paris 1973. Hai bên không tiết lộ chi tiết, nhưng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói: "Người Mỹ cần phải hiểu rằng khác với các đường phố của New York, các hiệp định quốc tế bao giờ cũng có hai chiều. Trong bất kỳ trường hợp nào, chúng tôi có thể chờ đợi thêm để có các quan hệ thương mại và ngoại giao nếu cần thiết".
"Roadmap" và những ngày cuối cùng
![]() Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Bàng lúc đó là Phó đại sứ tại Liên Hiệp Quốc. |
Ngày 21.11.1991, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai từ Việt Nam sang cùng với Richard Solomon đàm phán lần đầu tiên về bình thường hóa quan hệ hai nước tại New York. Thật ra, đến cuối năm 1992, tức là khi cuộc bầu cử tổng thống bước vào giai đoạn cuối, có tin Tổng thống G.Bush (cha) chuẩn bị bỏ cấm vận trước lễ Noel, vì lúc này ông ấy cũng không thể ở Nhà Trắng thêm 4 năm nữa. Tổng thống Bush cũng muốn trở thành vị tổng thống khép lại vấn đề Việt Nam đối với nước Mỹ. Nghe ông Bush có ý định như vậy, Nixon và cựu Ngoại trưởng Kissinger kịch liệt phải đối.
Có một câu chuyện khác, đó là ngay trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1992, chúng ta đã liên hệ với Bill Clinton (lúc đó là Thống đốc bang Arkansas), qua một người bạn làm luật sư của ông Clinton, vì chúng ta biết lập trường chống chiến tranh Việt Nam của Clinton. Và mọi chuyện đã diễn ra rất tốt đẹp".
Cho đến tháng 3.1993, Đại sứ Trịnh Xuân Lãng chính thức kết thúc nhiệm kỳ của mình tại LHQ, Phó đại sứ Lê Bàng lên thay. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Bàng nhớ lại: "Lúc này chưa phải hết khó khăn, tù binh Mỹ vẫn là một vấn đề lớn, có những thông tin sai lệch về tù binh và phía chúng ta vẫn tiếp tục giải thích". Tuy nhiên, vào tháng 7.1993, Tổng thống Clinton quyết định cho các định chế tài chính như Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) có thể cho Việt Nam vay tiền.
Ông Lê Bàng kể lại: "Sáng 3.2.1994, đó là một kỷ niệm không thể nào quên đối với tôi. Đầu giờ sáng hôm đó, Bộ Ngoại giao Mỹ gửi thông báo mời tôi đến Washington nói là "có việc", họ chỉ thông báo vắn tắt như vậy. Đến Washington vào buổi trưa, khi tôi đang ăn trưa với giáo sư Fred Brown của Đại học Tổng hợp John Hopkins tại một nhà hàng thì nhận được một cú điện thoại qua máy di động từ Bộ Ngoại giao Mỹ "mời lên có việc". Họ vẫn nói ngắn gọn như vậy. Đến nơi, họ thông báo là nửa tiếng nữa tại Nhà Trắng Tổng thống Clinton sẽ chính thức tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, họ yêu cầu tôi giữ bí mật thông tin đó. Và lúc đó là khoảng 3 giờ chiều giờ Washington, tôi về nhà một người bạn và bật ti vi lên xem. Chúng tôi đã rất xúc động trước sự kiện này vì đây là cả một quá trình đấu tranh gian nan. Trong thời gian bị cấm vận, có thể nói là chúng ta hết sức khó khăn, không những kinh tế bị ảnh hưởng mà cả các quan hệ ngoại giao quốc tế cũng vậy".
"Trước đó, tôi và một người bạn Mỹ rất thân đánh cuộc với nhau là Mỹ đã bỏ cấm vận trong năm nay chưa, tôi nói có, và người bạn Mỹ nói chưa. Cuối cùng, người bạn thua, phải trả cho tôi 5 đô la và nói: Thực ra tôi rất muốn thua trong vụ cá cược này, chúc mừng các bạn. Tôi vẫn giữ đồng 5 đô la này làm kỷ niệm như là một cột mốc đáng nhớ".
Xuân Danh
Tài liệu tham khảo:
- Hồ sơ văn hóa Mỹ của Hữu Ngọc
- Why Việt Nam ? của Archimedes Patti
- 42 đời tổng thống Mỹ của William Adegregorio
- Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ - những bài học lịch sử của Vũ Minh Giang
- Hồi ký của Joseph Damond - trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ

Bình luận (0)