Quy định mới về trách nhiệm tiếp công dân của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Đình Huy
Đình Huy

Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 95 quy định tiếp công dân trong Bộ Quốc phòng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 14.8.2026, thay thế Thông tư số 166.

Theo đó, thông tư mới quy định về tổ chức hoạt động tiếp công dân tại trụ sở, địa điểm tiếp công dân trong Bộ Quốc phòng; trách nhiệm của người đứng đầu, người tiếp công dân và mối quan hệ của các cơ quan, đơn vị trong hoạt động tiếp công dân.

Quy định mới về trách nhiệm tiếp công dân của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng- Ảnh 1.

Đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc, phòng gặp gỡ cử tri tỉnh Thái Nguyên đầu tháng 2.2026

ẢNH: BỘ QUỐC PHÒNG

Thông tư áp dụng đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan đến tiếp công dân trong Bộ Quốc phòng; công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh những nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Quốc phòng.

Đáng chú ý, tại điều 11 chương 3 của thông tư nêu rõ về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cụ thể, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác tiếp công dân của Bộ Quốc phòng và bảo đảm các điều kiện vật chất cần thiết để tiếp công dân theo quy định.

Cạnh đó, thực hiện tiếp công dân định kỳ hoặc đột xuất theo quy định của luật Tiếp công dân; kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng trong công tác tiếp công dân; đôn đốc việc xử lý sau tiếp công dân của các cơ quan, đơn vị.

Chỉ đạo Thanh tra Bộ Quốc phòng, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân phục vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tiếp tại trụ sở tiếp công dân Bộ Quốc phòng.

Giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của công dân

Thông tư cũng quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của người tiếp công dân. Theo đó, người tiếp công dân trong Bộ Quốc phòng là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, đáp ứng các tiêu chuẩn: có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn, nắm vững chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước; am hiểu thực tế, có khả năng thuyết phục, vận động quần chúng, nhiệt tình, bảo đảm yêu cầu về sức khỏe, có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao.

Khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải có trang phục chỉnh tề, đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định; có thái độ đúng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà người khiếu nại, tố cáo trình bày...

Chỉ được tiếp công dân tại trụ sở, địa điểm tiếp công dân của cơ quan, đơn vị; việc tiếp công dân phải công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời, không phân biệt đối xử; người tiếp công dân phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của công dân theo quy định tại khoản 2 điều 12 Nghị định số 154/2026/NĐ-CP.

Theo quy trình, khi nhận được nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do cơ quan quản lý nơi tiếp công dân các cấp chuyển đến, trong thời hạn 7 ngày làm việc, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết xem xét, xử lý và thông báo bằng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử về việc thụ lý giải quyết cho cơ quan quản lý nơi tiếp công dân đã chuyển đến.

Cơ quan tiếp công dân có quyền theo dõi, đôn đốc, yêu cầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền, giải quyết kịp thời, đúng thời hạn quy định và có trách nhiệm thông báo bằng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử kết quả giải quyết đối với vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho cơ quan tiếp công dân đã chuyển đến biết.

Trường hợp cơ quan tiếp công dân đã yêu cầu 2 lần nhưng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm giải quyết vẫn không thực hiện hoặc cố tình không chấp hành thì thủ trưởng cơ quan tiếp công dân có quyền kiến nghị chỉ huy cấp trên trực tiếp của cơ quan, đơn vị có trách nhiệm giải quyết; đồng thời, báo cáo xin ý kiến chỉ đạo hoặc biện pháp xử lý của chỉ huy cấp mình.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.