1. Run tay nếu xảy ra thường xuyên sẽ ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường. Có nhiều nguyên nhân gây run tay, hay gặp nhất là bệnh Parkinson. Run tay ở bệnh Parkinson thường run ở đầu các chi, nhất là các ngón tay. Run khi yên tĩnh không hoạt động hoặc mệt mỏi, xúc động nhiều thì run tăng lên, nhưng run sẽ giảm hoặc hết run khi hoạt động hoặc lúc ngủ. Tần số run trong bệnh Parkinson thường chậm khoảng từ 4-7 lần trong một giây. Nhịp và biên độ run trong Parkinson đều đặn.
2. Ở bệnh cường tuyến giáp trạng (Basedow) cũng gây run nhưng hay gặp nhất là run ngón tay và bàn tay. Do vậy, khi bác sĩ khám bệnh mà nghi mắc bệnh Basedow thì thường bảo người bệnh nhắm hai mắt và cho 2 tay ra phía trước vuông góc với thân, xòe và dịch sát mười ngón tay lại với nhau để bác sĩ quan sát biên độ run của các ngón tay. Trong bệnh cường giáp trạng thì bàn tay và ngón tay run đều, biên độ nhỏ và run có thể tăng lên khi xúc động mạnh, hoặc lo lắng.
3. Một số bệnh như bệnh xơ cứng rải rác, hội chứng tiểu não (tiểu não là cơ quan thuộc tổ chức thần kinh trung ương có chức năng điều hòa chính xác các cử động của cơ thể, ví dụ như gắp thức ăn đưa đúng vào miệng chứ không phải đưa vào mũi...) cũng gây run tay nhưng thường run tay khi hoạt động. Trong bệnh xơ cứng rải rác thì ngoài run tay còn có thể quan sát thấy co, gật nhãn cầu.
4. Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta có thể gặp một số người nghiện rượu nặng cũng bị run tay nhất là khi thiếu rượu. Hoặc người nghiện rượu sau khi cai vẫn bị run tay một thời gian (hội chứng sau cai rượu).
5. Ngoài ra người ta còn gặp một số trường hợp do tâm lý không ổn định, rối loạn thần kinh thực vật khi quá xúc động, quá sợ hãi cũng bị run tay, chân.
Như vậy hầu hết các trường hợp run tay, chân đều có nguyên nhân của nó. Muốn giải quyết giảm hoặc mất chứng run tay cần chẩn đoán, và xử trí được nguyên nhân gây bệnh. Có những bệnh gây run tay không phải trong ngày một ngày hai giải quyết hết run, mà phải có thời gian nhất định, người bệnh cần kiên trì.
PGS.TS Bùi Khắc Hậu
Bình luận (0)