Cũng theo sử sách, làng đúc đồng Phước Kiều có nguồn gốc từ xứ Phước Ninh, Kinh Bắc; thời hoàng kim phát triển rực rỡ nằm vào triều đại vua Tự Đức. Các sản phẩm vừa ra lò được đưa đến kinh thành Huế, phục vụ cho chốn cung đình rồi cũng lan tỏa theo dọc các làng, ấp thôn xóm miền Trung - Tây nguyên. Trải qua biết bao thăng trầm, làng đúc đồng Phước Kiều giờ đây vẫn còn 15 hộ gia đình sống chết với nghề; những sản phẩm từ xa xưa bây giờ vẫn làm như thanh la, chuông, cồng, chiêng, lư, đèn…
Nói chung, hầu hết những lĩnh vực liên quan đến đồ đồng các nghệ nhân ở đây đều có thể làm được với độ tinh xảo sắc nét. Có lẽ vì có bề dày tồn tại như thế cho nên làng đúc đồng Phước Kiều đã sản sinh ra những con người có biệt tài "thổi" vào cái chiêng, cái cồng y hệt những âm thanh của thần núi, của trời, của đất, của vạn vật! Người đó là ông Dương Ngọc Sang tức Chín Sang hay Sang Phước Kiều cái tên thể hiện sự kính trọng tay nghề của ông trong cái làng nghề nổi tiếng này. Mới đây, trong lễ hội “Quảng Nam hành trình di sản 2003”, ông được vinh dự làm đại diện của làng nghề biểu diễn những điệu nhảy, gõ chiêng và giải thích công việc đúc đồng cho du khách thưởng lãm.
Nhà ông Chín Sang nằm ẩn sau quốc lộ 1A chừng 50m, có thể ước đoán gia đình ông không phải giàu có lắm. Bốn bên che chắn bằng gỗ, mái lợp ngói, nền đất lồi lõm. Tại phòng khách, có hai thứ ông quí nhất, đó là những tấm ảnh chụp cùng các vị lãnh đạo để dưới lớp kính của bàn uống nước và tấm bằng khen trong một đợt dự thi tay nghề truyền thống toàn quốc treo trang trọng trên cột nhà. Ông rót nước trà ra các ly rồi xoa xoa bàn tay, tâm sự với chúng tôi như là lời định mệnh: “Cái nghề này kỳ lắm. Vô mánh thiệt dữ nhưng không đọng. Cả làng cũng vậy, trải qua biết bao nhiêu đời đến giờ chưa có ai xây nổi một căn nhà coi cho được!”
Điều ông nói cũng là “tâm lý” chung của người miền Trung, chỉ cần làm ăn dư dả một chút là nghĩ ngay đến việc xây cất nhà cửa; mặc dù việc xây nhà có thể dẫn đến kiệt quệ một thời gian dài. Tuy không giàu có nhưng ông rất tự hào về cái nghề của mình, ông sẵn sàng lôi ra tất cả thanh la, cồng, chiêng, đồ nghề và đánh vang rền cả xóm cho khách xem…
Dường như tạo hóa đã an bài cuộc đời ông Chín Sang gắng kết với nghề đúc đồng. Năm 12 tuổi bắt đầu học nghề, học từ người anh ruột - hơn ông 12 tuổi - là nhiều nhất. Đến hôm nay, có hai “món” chủ đạo của nghề là đúc và chỉnh âm ông đều làm sành sỏi. Ngay cả người anh dạy ông vào nghề thì nhiều khi phải nhờ lại ông điều chỉnh bộ chiêng cho đúng âm khách hàng yêu cầu. Đến thế hệ của ông, nghề đúc đồng phát triển cực thịnh vào những năm sau giải phóng, từ 1983 - 1990, thời bao cấp đói khát! Ông kể lại với cặp mắt sáng rực, giọng nói hồ hởi:
- Hồi đó, nhà tôi lúc nào cũng có khách, ban đêm nằm chật kín từ trên giường xuống nền đất. Họ đến từ khắp nơi, chủ yếu là anh em dân tộc ở các vùng núi Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Gia Lai, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Huế, Quảng Trị. Để có hàng cho khách, tôi phải nuôi thợ trong nhà, có lúc có đến mấy chục người, làm từ 3 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Nhiều hôm làm hàng không kịp, tôi phải sang những nhà khác mua lại, đem về chỉnh lại âm thanh cho đúng theo yêu cầu của khách.
| Đồ đúc của Phước Kiều đang bày bán trên QL1A. |
Giai đoạn “bùng phát” ấy nhanh chóng qua đi, những ngày tháng ế ẩm kéo dài dằng dặc; khuôn đúc bị mạng nhện giăng kín. Giã từ nghề đúc ở quê nhà, ông Chín Sang khăn gói lên đường, chuyển hẳn qua nghề thẩm âm. “Ban đầu tôi vô mấy huyện miền núi ở Quảng Ngãi, vừa học vừa làm kiếm sống. Cứ đi khắp nơi như vậy tôi học được cái âm sắc của nhạc cụ từng địa phương. Chẳng hạn người Cơ - Tu, Giẻ - Triêng ở các huyện miền núi Quảng Nam thì thích bộ thanh la ba chiếc. Người Ca Dong ở Quảng Ngãi thì thích bộ thanh la đôi. Còn các vùng cao của Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng thì dùng bộ chiêng không có núm. Tiếng chiêng của người đồng bằng thì ngân vang kéo dài và trong trẻo, vùng núi từ Quảng Trị trở vào Quảng Ngãi thì ngân dài, của vùng Tây nguyên thì âm vang ngắn nhưng mạnh mẽ”, ông Chín Sang kể.
Ông vừa nói vừa lôi đống đồ nghề ra, một hòn đe bằng gỗ, một dùi vải, một dùi tre, một búa sắt. Sau đó, ông lấy ra một cái chiêng rồi đứng lên, cầm dùi gõ và giải thích: “Đây là âm thanh của người…, đây là điệu nhảy của người…, tiếng ngót phải kéo dài ngân lên là của người…”. Rồi sau đó, cũng từ cái chiêng ấy, ông để trên hòn đe, lấy búa sắt gõ trên mặt chiêng lòng vòng, sau đó đánh lên nghe thử.
Cứ như thế, ông nhún nhảy theo từng điệu, nói rất say mê mặc kệ cho mồ hôi chảy dài nhễ nhãi. Đó cũng là vốn liếng vô cùng quí báu tích tụ được của những năm tháng ông lặn lội nơi nơi. Mà cũng đúng thôi, tìm hiểu rất kỹ không chỉ phục vụ cho công việc của mình để đổi lấy đồng tiền bát gạo mà còn đó là sự yêu nghề, nó đã thấm vào ông như là máu, thịt.
Nghề đúc đồng đã sành sỏi, lại học được nghề chỉnh âm, ông trở thành nghệ nhân ưu tú duy nhất của làng đúc đồng Phước Kiều. Những gian hàng bày bán ngoài quốc lộ 1A thường thường phải nhờ ông làm vị cứu tinh. Đôi khi gian hàng không có loại chiêng có âm thanh phù hợp cho khách, chủ hàng phải chạy vào mời ông ra chỉnh lại. “Tôi chỉ gõ mấy cái là được chứ có gì đâu!”, ông nói như đùa. Cứ mỗi lần chỉnh âm, chủ hàng trả cho ông từ 30 - 50 ngàn đồng, tuỳ theo loại. Tiếng lành đồn xa, nhiều khách hàng nơi khác mang đến nhờ ông chỉnh âm giùm. Đặc biệt là các loại cồng chiêng của Lào hoặc Trung Quốc có niên đại cách nay chừng vài trăm năm; vì rất giòn, dễ vỡ. Tuy nhiên, ông cũng làm tuốt, bí quyết là kê cho chắc, gõ không nhát tay. Ông khẳng định: “Giá trị thẩm âm rất lớn. Nếu như chỉnh được đúng như khách hàng yêu cầu thì giá trị của bộ chiêng tới bạc triệu, còn không thì chỉ có nước bán đồng nát mà thôi!”
“Chú à, sau mười mấy năm không ai mua thì năm nay bắt đầu có khách trở lại. Từ đầu năm tới giờ tôi bán được mười mấy bộ chiêng.” Ông Chín Sang chồm người về phía tôi nói nhỏ như điều bí mật. Đó là tín hiệu vui, không chỉ đối với ông mà còn là niềm hy vọng của làng đúc nói chung. Bởi vì, có thể nghề đúc đồng sống trở lại thì làng đúc được vực dậy, chắc chắn khách hàng sẽ tìm tới các lò đúc để đặt hàng! Chứ còn như lâu nay, khách chỉ tạt qua mua qua quít vài món đồ từ các gian hàng ngoài quốc lộ 1A rồi “dông thẳng”, người làm nghề đúc thấy vậy thì thèm thuồng nhưng cũng đành chịu, lấy đâu ra vốn để vừa đúc vừa mua hàng bày bán? Người mua đâu có cần biết rằng, những lò đúc như nhà ông Chín Sang cực kỳ tôn trọng nghề: sẵng sàng phá bỏ để đúc lại nếu như không đạt yêu cầu; hay chất lượng của hàng đúc là tuỳ thuộc vào độ pha kim loại… "Thế chú có sợ ế ẩm rồi dẹp tiệm không?" Ông nhấp ngụm nước trà, nói chậm rãi như không trả lời thẳng vào câu hỏi của tôi: “Tôi thấy dạo này khách du lịch đến cũng nhiều hơn. Rồi nghe mấy ông hướng dẫn du khách nói làng đúc nằm trong các tour du lịch đi Hội An, Mỹ Sơn gì đó. Nếu được vậy thì làng đúc sẽ sống lại thôi!”
Nguyệt Linh
Bình luận (0)