Truyện Phan Trần có gốc từ truyện Trung Quốc là Ngọc Trầm Ký do tác giả Cao Liêm viết dưới thời Vạn Lịch, nhà Minh (đầu thế kỷ 17). Một tác giả Việt Nam (chưa rõ là ai) chuyển thành chuyện Nôm và phổ biến trong dân gian. Với một số nguyên tắc đạo đức, truyện Phan Trần bị xếp vào loại dâm thư có lẽ do là chuyện kể dân gian, thiếu điều buộc người ta phải suy ngẫm. Nhưng với truyện Kiều thử tìm hiểu bằng chính câu chữ truyện Kiều, may đâu giảm nhẹ đi câu hỏi của Nguyễn Du: Ba trăm năm sau, biết ai là người khóc (hiểu được) Tố Như đây? (Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?).
Nhớ ngày còn nghe giảng văn bởi thầy Nguyễn Văn Xuân (ở Đà Nẵng) cứ thấy ông luôn miệng gọi "con Kiều" và "cô Vân" cho dù ông vốn là người mê truyện Kiều, luôn tập Kiều để nói chuyện đời, chuyện người. Về sau có hỏi thì thầy Xuân nói đại ý là có thích thú truyện Kiều đến mấy cũng khó tha được cái hành vi "xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" (câu 432 - truyện Kiều), tìm qua nhà Kim Trọng - tìm trai mà lại lúc khuya - để rồi cùng Kim Trọng đính ước, thề thốt mà chưa được cha mẹ cho phép - xưa kia đây là điều đại kỵ. Đến Chu Mạnh Trinh, một nhà nho đỗ tiến sĩ đệ tam giáp năm Thành Thái thứ 4 (1892) là người nổi tiếng phong lưu đa tình, các nghề chơi đều giỏi cả và năm 1905 ông tham dự cuộc thi bình vịnh truyện Kiều tại Hưng Yên được giải nhất thơ Nôm (theo truyện Kiều và các nhà nho thế kỷ 19 của Phạm Đan Quế) cũng hạ bút phê:
"vị thông môi chước
Tiên đính tư minh
Nhất trụy phồn hoa
Tiện thành kết tập".
Bản dịch Nguyễn Văn Anh: "Chưa liệu mối manh đã riêng thề thốt. Sa chân trót lỡ, mất nết đi rồi. Có người bảo: Phải chăng tại nước chảy mây trôi, lênh đênh quen thói. Mà xui nên cành chim lá gió, đưa đón dập dìu".
Mới thấy sức mạnh của tập quán, nhất là tập quán đạo đức càng trói buộc con người quen cách nghĩ có sẵn trong xã hội mà khó sẵn lòng xem lại chuyện xưa, nay. Nhưng Nguyễn Du người sống cách chúng ta hơn hai thế kỷ và sáng tác truyện Kiều (vào khoảng trước 1805) đã giải quyết vấn đề mang đậm tính nhân văn - giải oan cho nhân thân Thúy Kiều - Ta thử đọc lại đoạn thơ tả khi Kiều sang nhà Kim Trọng đã làm gì và Kim Trọng đã khinh hay trọng Thúy Kiều. Cũng như bao chàng trai khi có cô gái bên mình, Kim Trọng buông lời:
Sinh rằng: “Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay, một chút lòng chưa cam.
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?”
(câu 455-458)
Thúy Kiều: "Đừng điều nguyệt nọ hoa kia.
"Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai" (câu 461-462).
Kim Trọng: Rằng: "Nghe nổi tiếng cầm đài,
Nước non luống những lắng tai chung kỳ".
Buông lời, nhưng khi nghe Kiều chấn chỉnh, ngay lập tức Kim Trọng (hay Nguyễn Du) đã dùng điển tích tri âm: Bá Nha - Tử Kỳ để nói rõ lòng mình đối với cô Kiều là chân tình, không chút gợn nhỏ hiểu nhầm. Nên nhớ trong cả truyện Kiều 3.254 câu thì chỉ có 2 lần dùng chữ "tri âm" đều để tỏ tình với Kim Trọng.
Trong bản chú giải truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang hay của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đều ghi rõ: Nước non: Bá Nha người thời Xuân Thu giỏi gẩy đàn cầm, trên đường đi sứ nước Sở trở về đến cửa sông Hán Dương ngồi gẩy đàn, bất chợt gặp Chung Tử Kỳ là một tiều phu đi đốn củi qua nghe tiếng đàn gẩy lên một khúc, ý tại non cao, bèn nói: "Đẹp thay! Vòi vọi kia, chí tại non cao... Nghe tiếp Bá Nha gẩy khúc ý tại lưu thủy thì khen: "Đẹp vậy thay! Mông mênh kia, chí tại lưu thủy. Bá Nha lấy làm lạ lùng kinh sợ cho tiều phu biết rõ lòng mình như nhìn vào tấm gương, bèn kết nghĩa anh em. Sau 1 năm trở lại, Tử Kỳ đã qua đời, Bá Nha buồn đập gãy cây đàn than không còn người tri âm". (Theo tìm hiểu điển tích truyện Kiều - Phạm Đan Quế).
Vậy đã rõ. Với điển tích "tri âm" diễn giảng bằng hai chữ "Nước non" hẳn Nguyễn Du muốn nói lên điều cao hơn, điều tình yêu muốn nói, hay sự thăng hoa của tình yêu cao hơn những thứ đạo đức tầm thường mà con người thường ước lệ trói buộc lấy mình. Xin cho nghe đàn, nhưng chưa cần nghe tôi (Kim Trọng) đã hiểu lòng cô (Kiều) suy nghĩ, muốn gì khi qua đây, ngồi đây cùng tôi. Vì thế mới đáng trân trọng, vì thế mới quý chứ tôi không tầm thường để nghĩ đến chuyện đêm khuya cô lại sang đây!
Ngày nay, có dễ gì con người vượt qua khỏi sự phê phán tầm thường để lấy cái tâm thành thực đối đãi nhau cho dù vẫn luôn xưng tụng tình yêu. Nguyễn Du nói điều đạo đức là đạo đức thực là một khối tình chân, không phải những ước lệ xã hội định hình. Có vậy về sau khi Kiều - Kim Trọng tái hợp, vì gia đình nài ép hai người lại làm lễ thành hôn:
"Cùng nhau giao bái một nhà,
Lễ đã đủ lễ, đôi đà đủ đôi" (câu 3.133-3.134).
nhưng khi Kim Trọng tỏ ý động phòng thì cũng cô Kiều cự tuyệt:
“Chữ trinh còn một chút này,
Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan!” (câu 3.161-3.162)
Hai lần ra vào lầu xanh, bao nhiêu người đàn ông qua đời mình nhưng tấm lòng trinh trắng của Kiều vẫn giữ đó với Kim Trọng. Thực là một tình yêu cao thượng mà tình dục có sánh vào đâu. Cho nên mới thấy kết tội Kiều không đoan chính để liệt truyện Kiều vào loại dâm thư thì thật là trông người chỉ thấy bóng mà không thấy tâm. Trong hoàn cảnh ở lầu xanh, Kiều luôn nghĩ đến người tri âm:
"Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa" (câu 1.233 - 1.234)
"Thương thân mình nên: Vui thì vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai?" (câu 1.247 - 1.248)
Thương mình chính để thương người. Tấm tình ấy thật đáng mặt tri âm. Gặp được người như vậy để thương để yêu thì có sá chi những phê phán tầm thường mà xã hội quen độc miệng độc mồm chê bai dè bỉu.
Nguyễn Trung Dân
Bình luận (0)