Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Khi tôi quyết định tập hợp những bài thơ làm trong suốt nửa thế kỷ của thầy tôi vào một tập thơ, lấy tên bài thơ đầu tiên "Nắng mãi mưa trường" làm đầu đề chung, tôi đã đề nghị nhà thơ Nguyễn Thụy Kha viết lời BẠT. Anh Kha đã vui vẻ nhận lời. Xin in lại bài BẠT ấy của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha:

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ- Ảnh 1.

Chân dung tự họa của thầy tôi ở Nhà đày Buôn Ma Thuột, 1936

ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

"Mặc dầu là bạn thân thiết của Thanh Thảo - con trai ông và cũng từng được gặp ông ở căn nhà tranh bé nhỏ bên sông Thoa nghiêng xanh bóng dừa, tôi chưa bao giờ nghĩ ông Hồ Thiết từng làm thơ. Trong suy ngẫm của tôi, ông là một nhà cách mạng thứ thiệt, một tâm hồn cảm khái sẵn sàng dấn thân vì lý tưởng yêu nước, thương nòi. Từ khi biết ông từng là Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Ngãi thời kháng Pháp và rất có công xây dựng hệ thống thủy lợi từ nguồn nước sông Trà, tôi bỗng thấy bông lúa Quảng Ngãi khác hơn, ăn miếng cơm Quảng Ngãi khác hơn. Trong cái "đắng cay muôn phần" để "dẻo thơm một hạt" ấy, có bao phần cay đắng ở trong tâm can một lãnh đạo tỉnh như ông? Bởi vậy khi

Thanh Thảo đưa cho tôi tập thơ "Nắng mãi mưa trường" của ông thì tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên. Bởi vì một "người yêu nước lắm lênh đênh/một mình mình biết một mình mình hay" như ông, nếu không có thơ để thầm giãi bày, để tự chia sẻ thì còn biết nương tựa vào đâu giữa trời cao, đất dày này.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ- Ảnh 2.

Gia đình tác giả Tết Bính Dần 1986, in trong tập “Nắng mãi mưa trường”

ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Hóa ra, thơ đã lặng lẽ đồng hành cùng ông dọc con đường tranh đấu gieo neo của dân tộc.

Từ bài thơ "Nắng mãi mưa trường" đầu tiên làm tháng 8.1929 đến bài "Thơ tặng con" làm ngày 15.3.1981, mới thấy thơ đã gắn bó cùng ông suốt nửa thế kỷ dốc cạn mình cho sự nghiệp. Cứ mỗi lần dốc cạn thì thơ lại đầy lên. Tôi nghĩ vào những thập kỷ 30, 40 của thế kỷ 20, chắc ông chưa từng một lần đọc thơ Hồ Chí Minh, nhưng thật trùng phùng là tâm hồn cách mạng, thơ Hồ Thiết cũng hướng về sự kêu gọi quần chúng lao khổ. Đấy là những bài ca bằng lục bát, song thất lục bát, thắt lòng mà cất cao lên. Đấy là "Đứng lên","Khóc bạn tù","Bài ca cha khuyên con", "Bài ca kêu gọi chị em phụ nữ". Và đôi khi là một giọng vè mai mỉa thói hư tật xấu của đám quan lại đương thời. Lúc ấy, thơ ông là thơ tranh đấu.

Suốt 20 năm liên tục với công tác cách mạng, Hồ Thiết lại quay về với thơ như tìm lại cố nhân khi bắt đầu nghỉ hưu, bắt đầu có thời gian ngẫm ngợi "nghĩ người mà lại xót xa nỗi mình". Câu thơ như chắt qua, gạn lọc từ bao tâm sự cùng thế sự. Đến khi khóc trước cảnh ngộ ra đi của đồng chí Phạm Kiệt - một thủ lĩnh du kích Ba Tơ thì Hồ Thiết thật bén nhọn "giữa ngày xuân trong sáng lạnh lùng". Một mùa xuân trong sáng đến lạnh lùng như thế thì chỉ có thể là mùa xuân ở Việt Nam năm tháng trĩu nặng đó. Biến chuyển cách mạng lại khiến lão đồng chí Hồ Thiết hăng hái bật sáng mình trong những vần thơ kêu gọi "đấu tranh này là trận cuối cùng" để rồi lắng xuống thiền định sau ngày giải phóng. Sự lắng xuống trầm tĩnh đến tột cùng ấy đã cho ông tìm đến những câu thơ thật thơ như

"Ngày xuân nhớ bạn mưa rây trắng vườn". Đạt tới độ "mưa rây trắng vườn" thì nhiều nhà thơ chuyên nghiệp cũng không thể "giỡn đùa" được. Và thơ cứ vỡ dần trong đáy lòng "người yêu nước lắm lênh đênh" này, khi thì là động từ "bới" trong "Không đề", khi thì là một soi gương đồng hiện với "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua" của Hồ Chủ tịch là "Xuân này không kém mấy xuân qua" trong "Mậu Ngọ nguyên tiêu tức sự". Không hề cố ý nhưng hình như cả hai nhà cách mạng họ Hồ này nhiều tâm sự giống nhau. Làm cách mạng đến 78 tuổi mới chợt nghĩ ra phải dựng cho mình một căn nhà riêng bằng chính bàn tay mình, cho nên "chuối vườn" mới "xanh mịt" thì cũng là đầy nỗi lênh đênh quá rồi.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ- Ảnh 3.

Gia đình tác giả Tết Bính Dần 1986, in trong tập “Nắng mãi mưa trường”

ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Vào Quảng Ngãi, tôi thường tới Nghĩa trang Núi Bút thắp hương trước mộ ông. Ông nằm đấy yên nghỉ vô danh như bao liệt sĩ vô danh Mậu Thân 1968. Nhưng đọc xong "Nắng mãi mưa trường", tôi thấy hiện lên trước mình một vóc dáng tiên ông râu trắng đang đứng trên đỉnh núi Bút viết lên mây những câu thơ trời xanh bất tử".

Phải là người đã từng qua chiến tranh chống Mỹ, lại có lòng ngưỡng mộ sâu sắc thầy tôi, và là bạn thân của tôi qua bao nhiêu năm, anh Thụy Kha mới viết được bài BẠT xúc động như vậy.

Làm thơ không phải công việc chính của thầy tôi. Công việc chính của ông là làm cách mạng. Ngay từ năm 1929, khi chưa có Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hồng Kông do nhà cách mạng vĩ đại Nguyễn Ái Quốc chủ trì - ngày 3.2.1930 - thầy tôi đã có bài thơ đầu tiên "Nắng mãi mưa trường", như tiên báo sẽ xảy ra những cuộc cách mạng ở Việt Nam, vì dân Nam Việt đang sống quá ngột ngạt dưới ách cai trị của thực dân Pháp:

NẮNG MÃI MƯA TRƯỜNG

Khí hậu trời Nam rất lạ thường

Gần đây nắng mãi lại mưa trường

Khô khan thoi thóp đau lòng nhái

Đầy dẫy uyênh oang hả dạ ương

Sông cạn vì chưng nguồn kiệt nước

Bể đầy tại gốc ruộng tràn sang

Lương y xin cứu người Nam Việt

Bệnh nóng ngoài da lạnh thấu xương

Tháng 8.1929

Ngày đó, thầy tôi đã tham gia Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, và khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, thầy tôi đã thành đảng viên (ngày chính thức vào Đảng của thầy tôi là 1.10.1930).

Thầy tôi hoạt động cách mạng ở Quảng Ngãi, rồi ông bị Pháp bắt đưa đi đày ở Nhà đày Buôn Ma Thuột trong gần 10 năm. Tháng 3.1932, trên đường tới nhà đày, ông được tin vợ mình là bà Trần Thị Minh bị Pháp bắt bỏ tù ở nhà lao Quảng Ngãi, ông viết bài thơ gửi vợ:

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ- Ảnh 4.

Nhà thơ Thanh Thảo ngồi đọc lại tập thơ của ông Hồ Thiết

ẢNH: HẢI PHONG

Thư gửi vợ

Biết ai trò chuyện với mình

Vì chưng non nước chữ tình lãng xao

Quản chi thân phận lao đao

Tám mươi năm ấy tính sao bây chầy

Em ơi! Nhớ lấy câu này:

Đem bầu nhiệt huyết tưới đầy

non sông

Đừng trong chồng đừng nhớ chồng

Thương người máu đổ cõi trần bơ vơ

Dang tay ôm lấy ngọn cờ

Chỉ huy quần chúng lên bờ đấu tranh

Làm cho Đế chế tan tành

Thoát vòng nô lệ mới đành lòng ta

Một vì nước hai vì nhà

Trải gan lặn lội cho qua ngặt nghèo

Đường đi lên dốc xuống đèo

Ngẩn ngơ đất khách cheo veo phận mình

Thương nhau vì chữ đồng tình

Ghét nhau vì chữ bất bình đó thôi

Mấy lời tâm huyết em ơi!

Tháng 3.1932

Thư ấy viết bằng thơ, nhưng không tới tay bà Trần Thị Minh, vì bà đã bị giặc Pháp tra tấn dã man tới chết ở nhà lao Quảng Ngãi. Má trước của tôi, như thế đã thành liệt nữ Trần Thị Minh.

Đọc lại bài thơ gửi vợ của thầy tôi, mới thấm thía tình nghĩa vợ chồng khi cả hai cùng hoạt động cách mạng và cùng chịu cảnh tù đày chết chóc.

Còn má tôi, người đã sinh ra tôi, bà là một bà mẹ nông dân nhưng đã tham gia cách mạng tiền khởi nghĩa, và đã là Phó chủ tịch Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi. Rồi bà sinh tôi ngày 12.3.1946, thầy tôi mừng quá đã đặt tên tôi là Hồ Thành Công, kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội khóa Một thành công. Thầy tôi đã là đại biểu Quốc hội khóa Một cùng 7 đại biểu khác ở tỉnh Quảng Ngãi. Vừa đầy tháng tôi, má tôi đã xin nghỉ việc để ở nhà làm nông và chăm con, đứa con độc nhất khiến má tôi vô cùng thỏa nguyện.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ- Ảnh 5.

Nhà thơ Thanh Thảo thắp hương tưởng nhớ cha mình, ông Hồ Thiết

ẢNH: HẢI PHONG

Với vợ chồng tôi, sau hòa bình 1975, chúng tôi gặp nhau và yêu nhau tại Hà Nội. Khi biết người yêu của mình đã từng hoạt động bí mật, làm liên lạc cho Thành ủy Huế từ năm 16 tuổi, sau Mậu Thân 1968 được Thành ủy rút lên chiến khu rồi đưa ra Hà Nội học tập, tôi rất tự hào vì vợ mình. Như thế, gia đình tôi là gia đình cách mạng, khi bản thân tôi đã vượt Trường Sơn vào chiến trường Nam bộ từ tháng 1.1971, và đã ở chiến trường trọn 5 năm, tới hòa bình thống nhất mới về Hà Nội gặp lại thầy má mình.

Bây giờ, dù thầy má tôi, rồi vợ tôi đã qua đời, nhưng tôi luôn dặn dò hai đứa con của vợ chồng tôi, và 6 đứa cháu nội còn nhỏ, rằng gia đình mình là gia đình cách mạng, các con và các cháu đừng quên, và hãy sống sao cho xứng đáng.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.