Cứu nguồn nước và nông dân Mê Kông

4 Thanh Niên
Các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam cùng lên tiếng cảnh báo về hiện trạng nguồn nước sông Mê Kông, đồng thời kêu gọi hành động nhằm bảo vệ nguồn sống chung của khu vực.
Khô hạn nghiêm trọng tại ĐBSCL  /// Công Hân Khô hạn nghiêm trọng tại ĐBSCL - Công Hân
Khô hạn nghiêm trọng tại ĐBSCL
Công Hân
Hội thảo “Thách thức an ninh nguồn nước Mê Kông và câu chuyện ở ĐBSCL - Việt Nam” khai mạc tại Cần Thơ ngày 29.5 nhằm đưa ra góc nhìn mới về các nguy cơ an ninh môi trường do biến đổi khí hậu và tác động của các dự án vùng thượng nguồn. Hội thảo khởi đầu với việc Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Pereric Hogberg, Hiệu trưởng ĐH Cần Thơ Hà Thanh Toàn cùng các nhà khoa học trong và ngoài nước đồng ký tên vào thông điệp kêu gọi “Hãy chung tay cứu lấy dòng sông Mê Kông và nông dân của chúng ta”.
Hội thảo do Đại học Cần Thơ phối hợp với Đại sứ quán Thụy Điển, Trung tâm con người và thiên nhiên, Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam tổ chức với sự tham dự của gần 200 đại biểu, trong đó có nhiều đại diện tổ chức quốc tế, khoa học gia, lãnh đạo địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí trong nước cũng như phóng viên từ Thụy Điển, Myanmar, Campuchia, Thái Lan và Lào.
Biến đổi chóng mặt
Tại hội thảo, tiến sĩ Dương Văn Ni (Đại học Cần Thơ) chia sẻ những minh chứng sinh động về tình trạng sông Mê Kông đang biến đổi tiêu cực một cách chóng mặt do hậu quả từ tác động của con người vào thượng nguồn. Đó là những câu chuyện về trẻ con năm ngoái tát ao bắt cá được 10 kg còn năm nay chưa đến 2 kg, hay tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn đã gây hại cho 500.000 ha lúa nước, thiệt hại 200.000 tấn lúa và khoảng 50 triệu USD trong năm 2015 - 2016 tại ĐBSCL của Việt Nam.
Cứu nguồn nước và nông dân Mê Kông1
Ký tên kêu gọi bảo vệ sông Mê Kông tại hội thảo
Ảnh: Minh Phương
Tiến sĩ Piman Thanapon (Thái Lan) khẳng định hơn 70% người dân ở lưu vực sông sống nhờ nông nghiệp. Đây cũng là động lực phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo cũng như đảm bảo an ninh lương thực. “Tuy nhiên, mâu thuẫn đang gia tăng vì phần lớn các nước đều muốn phát triển nhờ sử dụng nguồn nước để tưới tiêu cũng như phát điện, và nhu cầu này sẽ còn tăng cao”, ông dự báo.
Trả lời Thanh Niên, ông Thanapon cho hay các dự án thủy điện và chuyển dòng chảy quy mô lớn để phục vụ tưới tiêu đang ngày càng xuất hiện nhiều ở thượng nguồn. “Rõ ràng các dự án này sẽ tác động đến sông Mê Kông, khiến dòng chảy thất thường hơn. Trong khi đó, ĐBSCL đang đối mặt với vấn đề lớn nhất là tình trạng nguồn nước khan hiếm và thất thường”, ông nói.


Kinh nghiệm của Thụy Điển
Trả lời phỏng vấn riêng của Thanh Niên, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Pereric Hogberg cho hay nước này cũng chia sẻ nhiều dòng sông với các nước láng giềng. “Chúng tôi buộc phải hợp tác chặt chẽ và luôn thỏa thuận trước khi tiến hành bất cứ hoạt động khai thác nào. Từ kinh nghiệm của Thụy Điển, tôi cho rằng điều quan trọng là không chỉ các nước và Ủy hội Sông Mê Kông nên đối thoại với nhau mà người dân cũng cần nhận thức và cùng với báo chí lên tiếng về các thách thức lẫn cơ hội cho vùng ĐBSCL”, ông chia sẻ. Theo ông, cần có cái nhìn tổng thể về thực trạng sông Mê Kông vì bên cạnh nguy cơ từ đập thủy điện, dòng sông đang đối diện nhiều vấn đề khác như xâm nhập mặn, các dự án chuyển dòng và ô nhiễm từ nông nghiệp.

Theo Giám đốc Trung tâm hỗ trợ quản lý tổng hợp tài nguyên nước Nguyễn Nhân Quảng, nhiều nước thượng nguồn đang ồ ạt tiến hành chuyển dòng để mở rộng diện tích tưới tiêu trong khi ĐBSCL đang hứng chịu xâm nhập mặn và đất phèn. Ông cho rằng trong khi chờ tổng hợp đánh giá tác động thì việc tiến hành chuyển nước từ sông Mê Kông rất đáng quan ngại đối với ĐBSCL. “Nếu các dự án này chỉ lấy nước mùa mưa, cùng với điều tiết của các đập thủy điện thì còn đâu “lũ đẹp” cho đồng bằng. Ngay cả trong mùa khô, có thể các hồ trữ đã hút nước sông Mê Kông”, ông cảnh báo.
Việt Nam, Campuchia chịu nặng nhất
Ông Nguyễn Nhân Quảng kêu gọi các bên tiếp tục thu thập thông tin qua nhiều nguồn khác nhau để có thể phân tích về tác động của việc khai thác tài nguyên nước Mê Kông nhằm kiến nghị với giới hữu trách có giải pháp kịp thời. Trong khi đó, bà Maureen Harris, Giám đốc phụ trách Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi quốc tế (International Rivers), kêu gọi tiêu chuẩn hóa tài liệu phục vụ quy trình tiền tham vấn của Ủy hội Sông Mê Kông về các dự án xây đập thủy điện. “Xét về tác động kinh tế thì các dự án thủy điện sông Mê Kông là tiêu cực vì thiệt hại về nguồn lợi thủy sản lớn hơn nhiều so với lợi ích từ thủy điện. Chưa kể chi phí giảm thiểu tác động xã hội và việc mất phù sa sẽ gây tác động lớn về lâu dài”, bà cảnh báo và cho biết thêm Việt Nam và Campuchia dự kiến sẽ bị thiệt hại nặng nhất.
Cũng tại hội thảo, chuyên gia Thanapon kêu gọi tăng cường hợp tác đối thoại cũng như nâng cao nhận thức của cộng đồng, nhất là phải để những người bị ảnh hưởng tham gia vào toàn bộ quá trình quy hoạch bất cứ dự án nào trên dòng sông.

Bình luận 4

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết

Thanh Toan

Tôi nghĩ bên cạnh việc tổ chức các cuộc hội thảo quốc tế để đánh giá tác động tiêu cực đến môi trường, đời sống người dân từ việc xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kong đối với các vùng hạ lưu sông Mê Kong để từ đó có căn cứ mà đối thoại, vận động, đề nghị các nước thượng nguồn hạn chế qui mô và thậm chí ngừng xây dựng các đập thủy điện. Thì thiết nghĩ chúng ta cần có những giải pháp để chủ động ứng phó với việc nếu các nước này phớt lờ đề nghị của mình và vẫn tiếp tục xây dựng vì mục đích kinh tế, chính trị của họ. Và nên xem đây là một cuộc chiến sinh tồn thực sự của cả vùng ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung. Theo tôi hiện nay ĐBSCL đang đối mặt với 3 nguy cơ: Nước biển dâng, nền đất lún sụp, nước trên hệ thống các sông giảm. Nguyên nhân là do: Tình trạng biến đổi khí hậu, và tác động của con người vào thiên nhiên. Khoảng đầu những năm 2000 trở về trước ĐBSCL luôn có khẩu hiệu “sống chung với lũ” thời gian đó lũ ngập trắng đồng ai chưa tưởng tượng được thì hãy xem phim “Mùa len trâu” sẽ thấy được hết. Lúc đó con người than thân trách phận và đối phó lại thiên nhiên bằng các biện pháp: xây dựng đê bao ngăn lũ, đào các kênh thoát nước ra biển tây…qua đó chúng ta cũng đã vô tình từ chối đi hàng tấn phù sa mà mẹ thiên nhiên ban cho. Và giờ đây chúng ta đã thấy rõ hậu quả khi không còn lũ nữa: Xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào đất liền, sạt lở đất khắp nơi ngay cả Mũi Cà Mau nơi mà trước kia bồi ra biển mấy chục mét năm nhưng giờ thì quá trình đó đã đảo ngược hoàn toàn, nguồn thủy sản cạn kiệt, đất đai ngày càng thoái hóa, nguồn nước ngọt ngày càng ô nhiễm thiếu thốn. Và tôi nghĩ rằng chúng ta phải tích cực hành động thôi theo hướng vừa thích nghi, vừa đối phó:
Trước tiên chúng ta cần xây dựng tại các cửa sông hệ thống đập ngăn mặn có hai loại đối với các sông, kênh nhỏ thì mình nên xây đê ngăn mặn cứng bê tông cố định, đối với các sông lớn có nhiều tàu thuyền ra vào thì mình xây đập mềm di động (cái này mình nên học hỏi Hà Lan họ đã làm lâu rồi nên 2/3 lãnh thổ họ dưới mực nước biển nhưng ho vẫn sống khỏe). Hệ thống đập này nếu được đầu tư hoàn chỉnh thì sẽ ngăn được mặn xâm nhập từ biển vào, tích được nước ngọt và phù sa từ sông đổ ra.
Tăng cường nạo vét và lắp đặt các cống tại các kênh, sông nhỏ nhằm biến hàng ngàn Km sông ngòi, kênh rạch trên toàn vùng ĐBSCL thành nơi tích trữ và điều tiết nước “biển hồ của Việt Nam”. Cho dù các quốc gia thượng nguồn sông Mê Kong có xây đập thủy điện thì để nhà máy phát điện hoạt động, cũng như đảm bảo an toàn cho đập vào mùa lũ thì họ dù muốn hay không cũng phải xả nước về hạ nguồn. Lúc này thay vì chúng ta cho xả hết nước ra biển thì mình mở hết các cống trong nội vùng để nước chảy vào và trữ lại nhiều nhất có thể. Đồng thời các đập tại các của biển sẽ đóng để tích nước. Sau đó, vào mùa khô khi nước thượng nguồn cạn kiệt thì chúng ta sẽ xả nước từ từ ra để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu và cũng để tăng áp lực nước ngọt ngăn mặn. Cơ chế hoạt động này giống như vai trò mà Biển Hồ ở Campuchia đang đảm nhận là tích nước mùa lũ, xã nước mùa khô. Khi chúng ta tích trữ được nước ngay trong vùng thì chúng ta sẽ chủ động hơn rất nhiều cả về kinh tế và chính trị.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng giảm trồng các loại cây cần nhiều nước. Thực tế mà nói Việt Nam chúng ta là cường quốc xuất khẩu nước, trong khi phần lớn nguồn nước của mình đang sử dụng và phụ thuộc lại ngoài lãnh thổ Việt Nam như sông Hồng và sông Mê Kong. Nên trong tương lai mình cần giảm bớt diện tích trồng lúa xuống đủ phục vụ nhu cầu trong nước và tăng diện tích nuôi trồng thủy hải sản, trồng các cây cần ít nước chịu hạn mặn như: Ngô, đậu nành, chuối,…
Tăng cường diện tích trồng rừng tại các vùng ven biển bên cạnh việc xây dựng đê bằng bê tông để chóng chọi lại thiên nhiên.
Nếu như trong các thế kỷ trước chiến tranh là tranh giành lãnh thổ, dầu mỏ, vàng, ảnh hưởng chính trị thì trong thế kỷ 21 này chiến tranh sẽ là để tranh giành nguồn nước.

nguyễn hữu phi

Biến đổi khí hậu , thiên tai là rất bức xúc cho cả nước . ấy vậy mà đến nay vẫn chưa có một cơ quan nào tập trung nghiên cứu theo dõi đề xuất xử lý. Ai cũng muốn dây phần rồi trách nhiệm đổi cho người khác. Họ chỉ thích quản lý chứ chắng ai muốn bắt tay vào nghiên cứu và làm. Tôi đề nghị chính phủ sớm có một cơ quan chịu trách nhiệm vấn đề này ví dụ như Bộ phòng chốn thiên tai lấy thủy lợi làm trung tâm mới giải quyết được.

Nguyễn Sang

Hội thảo nhiều rồi, các nhà khoa học đã xác định được nguyên nhân, Đây là việc mang tầm cỡ quốc gia, do vậy hãy bắt tay vào làm để đời con đời cháu còn có đất mà sống.

Đức Tiến

Nguyên nhân đều do con người chứ đừng đổ tội cho biến đổi khí hậu.

Có thể bạn quan tâm

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm