Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tống Phước Hiệp trong lòng dân đất Long Hồ

Không chỉ hiện diện trong sử sách, dấu chân tiền nhân mở cõi phương Nam còn được lưu giữ qua di tích, lễ tục và ký ức dân gian. Loạt bài Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam lần tìm những dấu tích ấy để kể lại hành trình mở đất.

Quốc công Tống Phước Hiệp là một trong những bậc tiền nhân có nhiều đóng góp cho vùng đất Vĩnh Long xưa (dinh Long Hồ). Khi ông qua đời, người dân lập đền thờ để tưởng nhớ, lấy tên ông đặt cho một ngôi trường và một con đường. Theo thời gian, tên trường, tên đường đã thay đổi, đền thờ cũng không còn, nhưng bài vị của ông vẫn được người dân thờ phụng tại đình Tân Giai (P.Phước Hậu, Vĩnh Long).

Lưu thủ dinh Long Hồ

Tống Phước Hiệp thuộc dòng dõi Luân quận công Tống Phước Trị, người từng giữ chức Trấn phủ Thuận Hóa dưới thời Lê. Gia tộc Tống Phước về sau nhiều đời phò tá các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tống Phước Hiệp trong lòng dân đất Long Hồ- Ảnh 1.

Đình Tân Giai (P.Phước Hậu, Vĩnh Long)

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Năm Đinh Sửu (1757), dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, lỵ sở dinh Long Hồ và châu Định Viễn được dời từ xứ Cái Bè sang xứ Tầm Bào (thôn Long Hồ). Dinh Long Hồ khi ấy do 3 chức quan điều hành gồm Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục. Tống Phước Hiệp giữ chức Lưu thủ, dưới quyền có Cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên, Cai cơ Tống Phước Hòa và Cai cơ đốc chiến Nguyễn Khoa Kiên.

Là vùng đất mới khai phá, Long Hồ không chỉ giữ vị trí quan trọng về quân sự mà còn nhanh chóng trở thành trung tâm giao thương của cả vùng. Theo Gia Định thành thông chí, chợ Long Hồ được lập từ năm Nhâm Tý (1732), cách trấn về phía đông một dặm, hai mặt giáp sông, phố xá nối liền, hàng hóa tụ hội, ghe thuyền ken đặc bến, miếu thần và đình làng mọc lên, đờn ca náo nhiệt, trở thành một trong những chợ lớn của trấn.

Dinh Long Hồ khi ấy cai quản một châu với các tổng Tân An (Bến Tre), Vĩnh Bình (Vĩnh Long), Vĩnh Trị (Vũng Liêm), Ba Lai (Cai Lậy, Cái Bè), đồng thời quản lý 3 đạo (đơn vị quân sự) gồm Đông Khẩu (Sa Đéc), Tân Châu (Cù lao Giêng) và Châu Đốc (sông Hậu). Trong bối cảnh vùng đất mới vẫn luôn đối mặt nguy cơ từ biên giới Tây Nam, Tống Phước Hiệp vừa chăm lo mở mang sản xuất, ổn định đời sống người dân, vừa tổ chức phòng thủ trước nhiều cuộc quấy phá của quân Xiêm.

Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tống Phước Hiệp trong lòng dân đất Long Hồ- Ảnh 2.

Tống Quốc công hiện nay được thờ phụng tại đình Tân Giai

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Sử sách ghi nhận Tống Phước Hiệp là người có tài thao lược, mưu dũng. Mùa đông năm Tân Mão (1771), quân Xiêm sang cướp phá Hà Tiên, Tổng binh Mạc Thiên Tích chạy về Trấn Giang (Cần Thơ) cầu viện. Nhận tin cấp báo, Tống Phước Hiệp lập tức đưa binh thuyền theo sông Hậu giữ Châu Đốc, phối hợp với các cánh quân của Nguyễn Cửu Đàm và Cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên tạo thế bao vây. Khi quân Xiêm rút về sông Cùng (Giang Thành), ông cho quân chặn đánh, buộc đối phương bỏ thuyền tháo chạy.

Ba năm sau, theo Đại Nam liệt truyện, Điều khiển Gia Định Nguyễn Cửu Đàm giao Tống Phước Hiệp cùng Cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên thống lĩnh quân các dinh, truyền hịch hiệu triệu quân các đạo, phối hợp thủy bộ phản công quân Tây Sơn, thu hồi 3 phủ Bình Thuận, Diên Khánh và Bình Khang rồi đóng quân ở Vân Phong.

Cũng trong năm Giáp Ngọ (1774), khi quân Trịnh chiếm Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Thuần phải vào Gia Định. Tại cửa biển Vân Phong, Tống Phước Hiệp cùng Nguyễn Khoa Thuyên ra nghênh đón. Sau đó, chúa Nguyễn phong ông giữ chức Tiết chế, tước Kinh Quận công và giao trọng trách tiến quân lấy lại Phú Yên.

Dân yêu như cha mẹ

Năm Bính Thân (1776), Tống Phước Hiệp vào Gia Định, yết kiến chúa ở hành tại. Mùa hạ năm ấy, ông lâm bệnh rồi qua đời.

Đại Nam liệt truyện dành cho ông những dòng đánh giá hiếm thấy: "Trước kia Phước Hiệp trấn thủ Long Hồ, có chính sự nhân huệ, dân yêu như cha mẹ. Phước Hiệp là người khẳng khái, có tài lược, cho việc đánh giặc là nhiệm vụ của mình".

Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tống Phước Hiệp trong lòng dân đất Long Hồ- Ảnh 3.

Trường THPT Lưu Văn Liệt, ngôi trường từng mang tên Tống Phước Hiệp (1961-1975)

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Điều còn đọng lại hơn cả không phải là chiến công, mà là tình cảm của người dân dành cho vị lưu thủ. Theo Đại Nam liệt truyện, khi ông mất, "ai nghe tin cũng thương khóc; người cày thì nghỉ việc canh nông, người buôn thì nghỉ chợ búa đến ba ngày". Chúa Nguyễn thương tiếc, truy tặng ông tước Hữu phủ Quốc công, cho lập đền thờ ở Long Hồ và hằng năm tổ chức tế lễ. Đến năm Gia Long thứ 9 (1810), ông được thờ tại miếu Trung Tiết công thần; năm Minh Mạng thứ 3 (1822), tiếp tục được phong Trung đẳng thần và thờ tại miếu Hội Đồng.

Trải qua những biến động của thời gian, ngôi đền thờ Tống Quốc công không còn nguyên vẹn. Sau năm 1975, khu đất đền được sử dụng để xây dựng Nhà văn hóa Vĩnh Long, nhiều di vật bị thất tán. Ông Tào Phú Vinh, nguyên chuyên viên Ban Quản lý di tích tỉnh Vĩnh Long, cho biết may mắn vẫn còn một số sắc phong được ông từ Văn Thánh miếu tên Vương mang về cất giữ. Đến năm 2008, khi công trạng của danh nhân Tống Phước Hiệp được nhìn nhận đầy đủ hơn, việc thờ cúng ông chính thức được khôi phục.

Khi ấy, nhiều ngôi đình ở Vĩnh Long đều mong muốn phụng thờ Tống Quốc công, trong đó có đình Long Thanh, đình Long Hồ và đình Tân Giai. Sau khi bàn bạc, các bô lão thống nhất đưa bài vị về đình Tân Giai vì nằm ở vị trí trung tâm, thuận tiện cả đường bộ lẫn đường thủy để tổ chức lễ giỗ hằng năm. Cũng trong năm đó, các đạo sắc phong được đưa về Bảo tàng Vĩnh Long lưu giữ, hiện còn 3 đạo; 2 đạo khác được lưu tại miếu Hội Đồng.

Đến nay, lễ cúng Quốc công Tống Phước Hiệp vẫn là lễ hội lớn nhất của đình Tân Giai, diễn ra vào mùng 2 và mùng 3 tháng 6 âm lịch. Mỗi mùa lễ, đoàn thỉnh sắc rước các đạo sắc từ Bảo tàng Vĩnh Long về đình, có năm đi đường sông, có năm đi đường bộ, với sự tham gia của hàng trăm người dân.

Trên đường rước sắc, đoàn dừng trước Trường THPT Lưu Văn Liệt - ngôi trường trước đây mang tên Tống Phước Hiệp - để thầy cô và học sinh dâng hương tưởng niệm. Đoàn cũng dừng trước Nhà văn hóa Vĩnh Long, nơi xưa từng là đền thờ của ông. Hành trình ấy như một nhịp nối giữa ký ức lịch sử và truyền thống tri ân vẫn được người dân Vĩnh Long gìn giữ đến hôm nay. (còn tiếp)

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.