Lý do của những người soạn thảo luật và một số ý kiến bảo vệ quan điểm này cho rằng, Luật Thương mại không điều chỉnh đối với người buôn bán nhỏ, vì người buôn bán nhỏ không phải là thương nhân theo đúng nghĩa của từ này; Luật không điều chỉnh đối tượng này là "nhân đạo", vì Nhà nước không thu thuế đối với người buôn bán nhỏ, là để tạo điều kiện cho họ hoạt động; vì người buôn bán nhỏ không phải đăng ký kinh doanh.
Như vậy, có 3 vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau được đặt ra. Một là, người buôn bán nhỏ không phải là thương nhân. Hai là, họ không phải nộp thuế. Ba là, họ không phải đăng ký kinh doanh.
Người buôn bán nhỏ, theo từ điển tiếng Việt và theo dân gian, phải được gọi là thương nhân, vì nghề của họ là buôn bán; thu nhập chính của họ là từ buôn bán. Nếu không gọi họ là thương nhân thì gọi họ là gì, chẳng lẽ là nông dân, thợ thủ công...?
Việc phải nộp thuế hay không phải nộp thuế không thể được coi là một tiêu chí để gọi là thương nhân hay không phải là thương nhân. Bởi nộp thuế hay không nộp thuế sẽ được điều chỉnh bằng các luật về thuế chứ không phải bằng Luật Thương mại. Nếu phải nộp thuế mới gọi là thương nhân thì nhiều đối tượng phải nộp thuế khác (như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế thu nhập cao...) chẳng lẽ lại được gọi là thương nhân! Hơn nữa, người buôn bán nhỏ tuy không phải nộp thuế theo luật, nhưng phải nộp nhiều khoản theo lệ (xã, phường, chợ, quản lý thị trường...), có khi còn nặng hơn cả theo luật và không phải tất cả đều không nộp thuế, vì trong tổng số cơ sở hoạt động thương mại cá thể chỉ có 13% được miễn thuế (miễn chứ không phải là không phải nộp).
Việc đăng ký hay không đăng ký cũng chỉ có ý nghĩa như giấy phép hành nghề; chứ với xã, phường, với điều tra thống kê... thì họ vẫn là một đơn vị được xếp vào một ngành kinh tế nhất định, nếu không khi tính số lao động, năng suất lao động và rất nhiều chỉ tiêu thống kê khác sẽ không có cơ sở và sẽ không thể so sánh được với nhau.
Hơn nữa, các chỉ số thống kê cho thấy, hoạt động thương mại cá thể còn rất rộng lớn. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (năm 2004 đạt 374,4 nghìn tỉ đồng), thì lớn nhất là khu vực cá thể (235,9 nghìn tỉ đồng, chiếm 63% tổng số), lớn hơn rất nhiều của khu vực tư nhân (68,6 nghìn tỉ đồng, chiếm 18,3%), của khu vực kinh tế nhà nước (57,6 nghìn tỉ đồng, chiếm 15,4%), của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (8,7 nghìn tỉ đồng, chiếm 2,3%) và của khu vực tập thể (3,6 nghìn tỉ đồng, chiếm chưa được 1%). Nếu xét về số lượng người làm thương mại, dịch vụ cá thể thì tỷ trọng của họ trong tổng số người làm thương mại, dịch vụ của cả nước còn lớn hơn nhiều. Tổng số cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ (gồm thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, du lịch, dịch vụ) cá thể của cả nước có khoảng gần 1,7 triệu (với tổng số người kinh doanh lên đến khoảng 2,4 triệu người). Trong tổng số cơ sở hoạt động thương mại, dịch vụ cá thể này chỉ có khoảng 37,9% có đăng ký kinh doanh (tức là có 62,1% không có đăng ký kinh doanh); khoảng 40% có đóng thuế, được miễn thuế là 13%, còn lại 47% chưa đóng thuế.
Xem thế thì thấy, việc coi người buôn bán nhỏ là thương nhân và được đưa vào phạm vi cũng như đối tượng áp dụng Luật Thương mại (sửa đổi) là hợp lý. Hơn nữa là đối tượng áp dụng luật đâu chỉ có ý nghĩa là quản lý, là nộp thuế, mà còn có ý nghĩa để không gọi là tư thương, mà còn có ý nghĩa như là tôn vinh.
Ngọc Minh
Bình luận (0)