Trăm năm đất tổ kim hoàn: Hai vị tổ sư nghề kim hoàn Việt

Bùi Ngọc Long
Bùi Ngọc Long
07/06/2026 06:00 GMT+7

Nhắc đến ông tổ nghề kim hoàn (nghề làm trang sức vàng, bạc, đá quý) VN, nhiều người biết đến ông Cao Đình Độ (1744 - 1810) và con trai Cao Đình Hương (1773 - 1821). Nhưng không phải ai cũng tường tận vì sao cha con ông ấy đều trở thành tổ sư của nghề kim hoàn nước ta, và đất tổ kim hoàn đang lưu giữ nghề xưa thế nào.

Nghề kim hoàn VN có từ bao giờ ?

Theo nghiên cứu của tác giả Trần Văn Dũng (cán bộ Sở VH-TT TP.Huế), nghề kim hoàn có từ lâu, khi con người có nhu cầu làm đẹp và vàng bạc trở thành thứ đồ trang sức quý giá. Ở VN, trong các di chỉ khảo cổ xuất hiện một số trang sức bằng vàng bạc; nhiều ngôi mộ ở thế kỷ 2 - 3 thấy có vòng tay, nhẫn, trâm, lược, hoa tai, hạt chuỗi... được gia công tinh tế.

Đặc biệt, vùng Đại La - Thăng Long xưa có làng Định Công nằm bên bờ sông Tô Lịch (nay thuộc Hà Nội) vốn nổi tiếng với nghề kim hoàn từ thế kỷ 6. Tương truyền, tổ nghề chạm vàng bạc có liên quan đến 3 anh em họ Trần (sinh khoảng năm 571 - 603), tạo nên cái nôi ban đầu của nghề chạm kim hoàn.

Tuy nước ta đã có nghề chạm khắc vàng bạc làm đồ trang sức, nhưng dấu ấn để lại hiện nay ít nhiều đã phai nhạt. Dưới các triều đại phong kiến, hầu như chỉ có các tầng lớp quý tộc mới sở hữu vàng bạc. Chính vì vậy, nghề chế tác trang sức nếu có cũng thuộc quản lý của các tầng lớp quý tộc, không được truyền ra bên ngoài.

Trăm năm đất tổ kim hoàn: Hai vị tổ sư nghề kim hoàn Việt- Ảnh 1.

Cảnh những người thợ kim hoàn làm việc đầu thế kỷ 19

ẢNH: TƯ LIỆU TREO TẠI TỪ ĐƯỜNG TỘC KIM HOÀN Ở TP.HUẾ

Khi trấn giữ xứ Đàng Trong, các chúa Nguyễn nắm giữ nhiều mỏ vàng như mỏ vàng Bồng Miêu, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, các kỹ thuật chế tác kim hoàn hầu hết nằm trong tay các nghệ nhân Trung Quốc. Hầu như các đồ bằng vàng ở phủ chúa đều phải thuê thợ người Trung Quốc đến làm. Họ giấu nghề rất kỹ và độc quyền về những kiến thức liên quan. Chính chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ra lệnh cho các quan trong triều tìm cách hợp tác sản xuất với người Hoa, nhưng đều thất bại.

Nhị vị tổ sư

Cho đến cuối thời chúa Nguyễn, khi Nguyễn Huệ lên ngôi ở Phú Xuân (1788) lấy niên hiệu là Quang Trung, mới chính thức có sử liệu về nghề kim hoàn của người Việt. Theo tư liệu lịch sử, ông Cao Đình Độ sinh năm Giáp Thìn (1744) tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Vốn xuất thân trong một gia đình nông dân, nhưng với niềm đam mê muốn học hỏi nghề thợ kim hoàn, ông lên đường ra Thăng Long "tầm sư học đạo". Thời kỳ này chỉ có người Hoa mới nắm được cách chế tác và độc quyền sản xuất, buôn bán vàng bạc trong cả nước. Để học được nghề kim hoàn, ông phải dành nhiều thời gian học tiếng Hoa, xin vào giúp việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long để tạo niềm tin, từ đó tiến tới xin học nghề. Tay nghề ông ngày càng thành thạo và đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo, đủ sức tranh tài với những thợ kim hoàn người Hoa khác tại đất Thăng Long.

Trăm năm đất tổ kim hoàn: Hai vị tổ sư nghề kim hoàn Việt- Ảnh 2.

Hai bức sắc phong của vua Khải Định và Bảo Đại cho nhị vị tổ sư kim hoàn (tước hiệu “Dực bảo trung hưng linh phò chi thần”) treo ở từ đường Tộc kim hoàn tại Huế

ẢNH: THÀNH ĐẠT

Năm 1783, khi nhận thấy Thuận Hóa, kinh đô xứ Đàng Trong, phát triển phồn thịnh lại chưa có người hành nghề kim hoàn, ông Cao Đình Độ cùng vợ con vào lập nghiệp. Đầu tiên, gia đình ông dừng chân tại làng Kế Môn (nay thuộc P.Phong Phú, TP.Huế). Tại đây, ông đã truyền nghề cho con trai Cao Đình Hương và một số học trò thuộc 2 họ Huỳnh Công, Trần Mạnh. Về sau, 2 họ Huỳnh, Trần tiếp tục truyền nghề lại cho con cháu, biến làng Kế Môn thành làng thợ kim hoàn lớn vào bậc nhất ở xứ Đàng Trong.

Theo tài liệu lịch sử, năm 1790, vua Quang Trung triệu cha con ông Cao Đình Độ cùng một số thợ bạc ở làng Kế Môn vào triều để lập đội Cơ vệ Ngân tượng, nơi chuyên nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ vàng bạc và đồ trang sức cung điện. Trước công đức và những đóng góp lớn lao đó, ông Độ được triều đình phong chức Lãnh binh, con trai (ông Hương) được phong chức Phó lãnh binh. Thời gian này, gia đình ông Độ sống tại làng Cao Hậu (thường gọi là Côi Hậu, H.Hương Trà, nay thuộc P.Hương An, TP.Huế).

Đến khi Nguyễn Ánh chiếm lại đất Thuận Hóa - Phú Xuân, mọi thành tựu văn hóa dưới triều Quang Trung đều bị phá hủy, chỉ duy nhất ngành ngân tượng được bảo tồn. Hai cha con ông Độ cũng như nhóm thợ làng Kế Môn vẫn được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục nghề kim hoàn trong cung điện.

Trăm năm đất tổ kim hoàn: Hai vị tổ sư nghề kim hoàn Việt- Ảnh 3.

Nhà thờ Tổ kim hoàn tại làng Kế Môn, P.Phong Phú, TP.Huế

ẢNH: BÙI NGỌC LONG

Theo truyền thống ngày giỗ hằng năm được các cụ đời trước truyền lại, ông Cao Đình Độ làm quan ở Ngân tượng triều Nguyễn đến ngày 7.2 năm Canh Ngọ thì qua đời (trùng ngày 22.3.1810), thọ 66 tuổi. Sau khi ông qua đời, vua Gia Long và triều đình thương tiếc, truy phong thêm tước hiệu "Đệ nhất tổ sư", được ban đất xây lăng như các quan đại thần và cử hành tang lễ chu tất, an táng tại ấp Trường Cởi (nay thuộc P.Thuận Hóa, TP.Huế).

Sau khi ông Cao Đình Độ qua đời, con trai Cao Đình Hương được kế tục sự nghiệp của cha trong triều với chức quan Lãnh binh. Nhưng cùng trong năm đó (1810), từ hoài bão và tâm huyết của cha, nhận thấy chỉ quanh quẩn phục vụ trong cung vua nghề kim hoàn sẽ bị mai một, ông Hương quyết định từ quan về nhà để tìm người nối nghiệp. Quan Thượng thư bộ Lại Trần Minh mời ông về phủ dạy nghề cho 3 người con là Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền và 3 người cháu Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật.

Ông Hương qua đời ở tuổi 48 vào ngày 27.2 năm Tân Tỵ (tức ngày 5.4.1821), được vua Minh Mạng sắc phong tước hiệu "Đệ nhị tổ sư" và cho an táng cạnh mộ phần của cha mình tại ấp Trường Cởi. Trước khi mất, ông Hương có tâm nguyện mong học trò đem nghề kim hoàn truyền bá rộng rãi trong dân gian. Chính vì vậy, nghề kim hoàn chính thức được truyền bá rộng rãi cho đến ngày nay. (còn tiếp)

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.