Trước mặt chợ Hà Tiên mở ra một ngã ba, một bên là đường Mạc Thiên Tích (còn gọi Mạc Thiên Tứ, nhà cai trị trấn Hà Tiên và đã có công làm cho Hà Tiên phát triển phồn vinh) dẫn thẳng ra Rạch Ụ, một bên là đường Trần Hầu dẫn thẳng ra Đông Hồ. Hai chữ "Trần Hầu" thực tế để chỉ một vị hầu tước họ Trần. Ông là ai mà lại được đặt tên cho một con đường quan trọng như vậy?
Những ghi chép và suy luận về Trần Hầu
Năm 1818, Vũ Thế Dinh viết Mạc thị gia phả cho biết "Trần Hầu" chính là con trai của em gái Mạc Thiên Tích. Trần hầu làm quan ở Hà Tiên, coi đội Thắng Thủy. Năm 1769, Mạc Thiên Tích sai Trần hầu đem năm vạn quân đánh Xiêm, để đưa vương tôn nước Xiêm là Chiêu Thúy về nước. Nhưng vì dịch bệnh bùng phát, Trần hầu mắc bệnh qua đời. Vũ Thế Dinh nói rõ rằng Trần hầu là "điệt" (cháu họ) của Trần tướng quân nhà Minh.
Cùng thời gian đó, học giả Trấn Biên là Trịnh Hoài Đức viết Gia Định thành thông chí, cũng nhắc đến sự việc tương tự. Nhưng ông gọi người đó là Sửu Tài hầu Trần Đại Lực. Trịnh Hoài Đức nói rõ Trần Đại Lực là cháu của Thắng Tài hầu Trần Thượng Xuyên (người đã có công khai phá vùng đất Biên Hòa, xây dựng Cù Lao Phố thành thương cảng sầm uất), là con của Định Sách hầu Trần Đại Định.

Mộ em gái Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên
Ảnh: Trần Hoàng Vũ
Bên triền núi Bình San có ngôi mộ của Chiêu Vũ đại tướng quân Cơ Trí hầu Trần công. Bia mộ lập năm Canh Dần (1770) - chỉ một năm sau khi Trần hầu xuất quân đánh Xiêm. Các nhà nghiên cứu cho rằng thời gian mất của Cơ Trí hầu trùng khớp với Trần hầu và vì vậy đó chính là mộ của Trần hầu. Trong một thời gian dài, nhận định đó trở thành định luận, được nhiều người nhắc đi nhắc lại. Nhưng không ai biết phía sau đó vẫn còn nhiều điều không khớp.
Kết nối tư liệu
Vũ Thế Dinh nói rằng Trần hầu là "điệt" của Trần tướng quân. Trong ngôn ngữ Hán văn, "điệt" là để chỉ người cháu trong dòng họ. Trịnh Hoài Đức dùng chữ "tôn" có nghĩa là cháu ruột. Sự khác biệt chỉ một chữ tưởng chừng như nhỏ nhặt, nhưng lại là chỉ báo quan trọng. Khi xem xét tư liệu gia phả của hậu duệ Trần Thượng Xuyên ở Điền Đầu (Quảng Đông, Trung Quốc) cũng như hậu duệ họ Mạc ở Hà Tiên, ta mới thấy dù cách xa hàng ngàn dặm không gian và mấy chục năm thời gian, nhưng thông tin gia phả của hai nhà hoàn toàn trùng khớp.
Gia phả họ Trần thôn Điền Đầu cho biết Trần Thượng Xuyên có hai vợ, nhưng không có con trai. Sau khi Trần Thượng Xuyên qua đời, chức vị được truyền lại cho em trai ông là Trần Thánh Âm.

Trích Hồ sơ Quân Cơ Xứ nhà Thanh về Trần Lang và Trần Cơ
Ảnh: Tư liệu của Trần Hoàng Vũ
Hậu duệ Mạc Tử Khâm (người kết thúc dòng chính của dòng họ Mạc có công khai phá đất Hà Tiên) còn giữ một tập ngày sinh, ngày mất các thành viên trong gia tộc. Trong đó có một nhân vật tên Chưởng Thủy Hằng được xác nhận là "em rể của Tiên công". Tiên công là danh xưng dành cho Mạc Thiên Tích. Ở núi Bình San tại Hà Tiên có ngôi mộ của Long Hổ đại tướng quân Hoàn Vũ hầu Trần công. Cách đó một quãng là mộ của vợ ông - bà Thành Đức thái phu nhân Mạc thị. Mộ do hai người con trai là Thiệu Hổ và Thiệu Phách dựng.
Đầu năm 2026, hậu duệ của Trần Thượng Xuyên tại Điền Đầu có mang theo gia phả dòng họ về Biên Hòa để đối chiếu. Gia phả họ Trần cho biết một người anh em họ của Trần Thượng Xuyên là Trần Thiều Âm sinh con trai là Trần Thụy Thư. Trần Thụy Thư "Hà Tiên tướng quân, cưới Mạc thị Hà Tiên, hợp táng ở dãy núi Đan Bình ở Hà Tiên, sinh hai con trai cư trú ở An Nam, chi phái lan tỏa ở An Nam". Hai người con trai của Trần Thụy Thư chính là Trần Thiệu Hổ và Trần Thiệu Phách.
Kết nối tư liệu của hai gia tộc, ta có thể nhận ra Hoàn Vũ hầu chính là Trần Thụy Thư, còn Thành Đức thái phu nhân chính là người em gái của Mạc Thiên Tích. Vậy Cơ Trí hầu là con trai của hai người như suy luận lâu nay ư? Đến việc này thì dường như không phải.
Hồ sơ Quân Cơ Xứ của nhà Thanh mà chúng tôi đang nghiên cứu còn giữ báo cáo của Du kích Trịnh Thụy - người được phái sang Hà Tiên đúng giai đoạn Mạc Thiên Tích sai Trần hầu đưa Vương tôn nước Xiêm Chiêu Thúy về nước. Báo cáo của Trịnh Thụy viết rằng Mạc Thiên Tích "vào tháng 12 năm (Càn Long) thứ 33 (1768) phái Di mục là Trần Lang dẫn quân đi Xiêm La. Tháng giêng năm nay (1769) đoạt được đất Đồng Trại. Tháng hai năm nay lại phái Di quan là Trần Cơ cùng Trần Lang đi đánh Chiêm Trạch Vấn". Chữ Cơ trong tên Trần Cơ chính là chữ Cơ trong tước Cơ Trí hầu. Bằng vào thói quen lấy tên húy làm chữ đầu để đặt tên tước, có thể nhận ra Trần Cơ chính là Cơ Trí hầu. Còn Trần hầu chính là Trần lang (chàng họ Trần).
Như vậy, Cơ Trí hầu và Trần hầu là 2 người khác nhau, và "Trần hầu" là một trong hai người Trần Thiệu Hổ hoặc Trần Thiệu Phách. Đáng tiếc, hiện nay chưa tìm ra mộ của hai người này. (còn tiếp)
Bình luận (0)