Bài dẫn bắt đầu bằng một đoạn văn dài 29 chữ, nói về sự thay đổi "kỳ lạ" của một tòa nhà cổ ở trong Đại nội: Tả phạm đình hậu diện đề bích. Đình tại khước bình sơn chi bắc luân thông tự hậu; tiểu cương thượng thị hòa phủ phụng kỳ tiên huynh vân. Trần Như Thổ dịch: Nói rõ ngôi nhà Phật mặt sau có biển treo tường. Nhà ấy nằm lùi mươi bước cách bức bình sơn thuộc cổng bắc đi thông tới sau chùa. Trên gác nhỏ ấy đều vừa mới kính thờ các người anh đã khuất từ ngày trước.

Tòa Khương Ninh Các - Phước Thọ Am trong Diên Thọ Cung (phía trước)
ẢNH: TRẦN ĐỨC ANH SƠN
Tòa nhà này nằm ở phía tây Diên Thọ Cung, là cung điện được vua Gia Long cho xây dựng vào năm 1803 làm nơi ăn ở của các thái hậu, thái phi triều Nguyễn. Năm 1830, vua Minh Mạng cho dựng ở góc tây bắc cung này một công trình kiến trúc bằng gỗ hai tầng, gọi là Khương Ninh Các.
Tầng trên Khương Ninh Các phụng thờ chư Phật cùng các vị thần linh của nhiều tôn giáo khác. Tầng dưới là nơi tá túc của các bà vào lúc cuối đời. Tuy chỉ là tòa gác khiêm tốn nhưng Khương Ninh Các vừa là nơi thờ cúng, vừa là nơi trú tất; vừa là nơi thờ Phật, vừa là nơi thờ chư thánh. Do vậy mà tòa nhà này có hai tên gọi: mặt trước có treo bức hoành đề ba chữ Hán: Khương Ninh Các; mặt sau treo một bức hoành đề ba chữ Hán: Phước Thọ Am. Phước Thọ Am không thờ Phật, mà thờ vong linh những người trong hoàng gia triều Nguyễn đã khuất.
Theo Trần Như Thổ, Miên Thẩm đã mô tả rõ ràng vị trí và các điểm kỳ lạ, sự thay đổi bài trí và chức năng sử dụng phần phía sau tầng hai của tòa Khương Ninh Các, để biến thành Phước Thọ Am. Sự thay đổi "kỳ lạ" nhất thể hiện trong câu: Tiểu cương thượng thị hòa phủ phụng kỳ tiên huynh vân, trong đó ba chữ hòa phủ phụng có nghĩa "đều vừa mới kính thờ", nghĩa là việc thờ phụng "các người anh đã khuất" trong Phước Thọ Am là vừa mới xảy ra sau năm 1858. Vậy trước đó chỗ này để làm gì?

Tòa Khương Ninh Các - Phước Thọ Am trong Diên Thọ Cung (phía trái)
ẢNH: TRẦN ĐỨC ANH SƠN
Tiếp theo là hai câu: Đình quân xứ cái di kim. Dã thuộc Xà danh chi… Suy theo mạch văn, câu thứ 2 có vẻ bị thiếu một chữ cuối. Vì thế, Trần Như Thổ đã thêm vào đó chữ cổ và dịch là: Nhà ông (đang ở) còn sót đến nay được ưa chuộng nhất trong xứ, là thuộc dòng họ Xà để lại từ xưa.
Từ đó, ông cho rằng hai câu này Miên Thẩm ngợi khen Doãn Lương Ngọc đã bảo tồn nguyên vẹn ngôi nhà mà ông đang ở, vốn là một ngôi nhà cổ thuộc nhà họ Xà từ xưa còn lại. Nhưng thực ra Miên Thẩm có ý chỉ trích việc dùng gian phòng ở phía sau tầng hai Khương Ninh Các để làm nơi thờ tự "các người anh đã khuất" là phá hỏng sự tôn nghiêm của một nơi thờ Phật mà vua Gia Long đã cho xây dựng và sắp đặt.
Phần cuối bài dẫn dài 42 chữ: Giải thoát siêu nhiên ngộ xứ cao. Phiêu phiêu Tứ đại nhạ phong ngao. Thủy tri thành Phật tiên linh. Vận tức tiếu nhất tác bất cố. Vi nhân hủ phục thao song lý lục thần, phiên bối diệp lâm gian ngũ.
Trần Như Thổ dịch: Lột bỏ cốt cách vượt qua sự đời mới hiểu thấu cõi Niết bàn. Ung dung tấm thân tứ đại đón gió dạo chơi. Cần hiểu trọn hết nguồn gốc huyền diệu của Phật tổ thời trước. Thời vận nực cười: một việc "nhấc lên" không hề nói lại. Làm người luôn nằm chực khắp bên trong cửa "thức thứ Sáu" để dịch giải kinh Phật về khoảng giữa rừng ngũ uẩn.
Theo Trần Như Thổ, với đoạn văn này, Miên Thẩm đã bày tỏ nỗi niềm trước sự đời buồn chán nên phải đi tìm đạo. Ông cho rằng sự đời thật nực cười, bởi việc nhất tác (nhấc lên làm đảo lộn cương thường, phi lễ nghĩa) nhưng bất cố (không hề nói lại).
Trần Như Thổ lý giải rằng: Chứng kiến việc phế bỏ Hồng Bảo, "nhấc" Hồng Nhậm lên ngai vàng vào năm 1847, Miên Thẩm nghi ngờ đây không phải là ý vua Thiệu Trị. Sự "thay đổi" ấy diễn ra khi vua Thiệu Trị lâm bệnh nặng, tất là việc không bình thường và chứa đựng nhiều yếu tố mờ ám. Đó là hành động "đổi trắng, thay đen" của những người thân cận bên giường bệnh của vua, những người đã tạo nên "di chiếu giả" để phục vụ cho mưu đồ của họ. Vì chuyện này mà Miên Thẩm "chán đời, tìm đạo". Ngày ngày ông tập trung trí tuệ để đọc giải kinh Phật (phiên bối diệp), nhằm hiểu thấu muôn sự rối ren trong lòng người và việc đời đều do "ngũ uẩn" mà nên.
Vậy ai là người đã làm nên cái chuyện "nhất tác bất cố" ấy? Và vì sao họ lại làm thế? Giải mã ẩn ý trong "bức mật thư" Tống Trần Như Khuê kiêm ký bá thị Đông Sơn Doãn Lương Ngọc thì điều này sẽ được sáng tỏ. (còn tiếp)
(Trích từ sách Huế - triều Nguyễn một cái nhìn của nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn, do NXB Thế Giới ấn hành)
Bình luận (0)