Cha là người đàn ông thành đạt hiếm hoi ở quê tôi, vùng quê hoang vắng, lạc lõng. Cha có vị trí trong xã hội và chưa ai phủ nhận sự đôn hậu, điềm đạm nơi cha, ông vốn đẹp trai và vui tính. Ngược lại, mẹ tôi thấp lùn, cằn cỗi. Mẹ làm nông nên hai bàn tay thô ráp xù xì, hai bàn chân bốn mùa nứt nẻ. Gương mặt mẹ không hiện lên nét ấm áp, mà có gì đó cay nghiệt, bất cẩn và cả sự nín nhịn nữa.
Sự vắng mặt của cha đã thành chuyện bình thường trong gia đình. Nhà chỉ thường xuyên có mặt bốn người: Mẹ, anh Bay, chị Tâm và tôi.
Tôi vẫn nhớ rất rõ ngày xưa, mỗi lần cha từ biên giới về, lại bắt ba anh em tôi đứng sát vào cột nhà, cha lấy một cục than đen vạch lên cột đánh dấu chiều cao của mỗi đứa. Một lần, chị Tâm ngước nhìn cha bằng đôi mắt trẻ thơ rất buồn:
- Cha ơi, sao ba lần cha về mà con chẳng cao thêm chút nào hở cha?
Cha chỉ cười hiền từ và cố ý nhích vạch than của chị Tâm lên một chút.
Từ mái trường lợp lá cọ xùm xụp ở quê, anh Bay, chị Tâm lần lượt xuống thành phố học. Người ở làng trên bản dưới xầm xì rằng vì cha tôi là cán bộ nên anh em tôi mới được đi học. Sự thật anh em tôi đã may mắn hơn nhiều bè bạn cùng trang lứa ở quê. Chúng tôi có một người cha tốt, nhưng tôi vẫn muốn mọi người hiểu rằng chúng tôi được đi học không chỉ bởi là con của cha, mọi thứ không gì tự dưng mà có, để thành người, anh em tôi đã cố gắng học hành để không thua kém bạn bè muôn nơi.
Ngôi nhà sàn trở nên rộng rãi, trống trải khi chỉ còn mình tôi và mẹ, nhìn góc nào cũng tối tăm, lạnh lẽo. Thắp đèn trong cả nhà và bếp để mong bớt quạnh quẽ mà rồi chỉ cảm nhận rõ hơn những cơn gió thốc. Chẳng hiểu từ bao giờ mẹ con tôi có thói quen cài cửa, cứ lên khỏi cầu thang là cài cửa lại, không bao giờ mất trộm mất cắp nhưng có cái gì đó mơ hồ, lạnh lẽo hiện về cùng bóng tối và những cơn gió hoang.
Mẹ vẫn ngồi ở gian bếp mỗi tối kéo sợi và nấu cám lợn, còn tôi học bài ngày mai. Thường mẹ phải tắt đèn cho tôi vì tôi hay ngủ quên. Nhiều lần mẹ nói:
- Ngủ thì phải tắt đèn đi, con cứ để đèn mà ngủ thế nào cũng có ngày cháy tóc đấy!
***
Cha về phép mang theo cây đèn bão, thắp sáng cả bốn gian nhà. Gió vẫn vi vu thổi vào nhà nhưng ngọn đèn bão không hề lay lắt. Cầu thang nhà tôi lại có nhiều người lên xuống, trong nhà tôi lại có nhiều lời hỏi han, trò chuyện. Mọi thứ trong nhà trở nên ấm áp hơn hẳn.
Tôi theo cha về quê nội, chiếc Minsk trườn qua dốc đá, gió ù ù tạt qua tai.
Cha gật đầu cười với những người trên đường, còn tôi thì không. Trước mặt tôi là những tia nắng reo vui ấm áp.
Cha dừng xe trước cổng nhà ông Cường. Lần nào về quê nội cũng thế, đến đầu bản thì cha dừng xe, lần lượt đến thăm từng nhà trong họ. Sau cùng cha dừng chân ở nhà ông nội và bao giờ đó cũng là chỗ dừng lâu nhất. Tôi không theo cha mà đi vào nhà nội trước. Ông nội đang chẻ nứa dưới sàn. Tôi chào ông thì ông ngúc ngoắc đầu với tẩu thuốc lá đang kéo dở, chỉ tay lên nhà. Đã mấy năm nay ông bị nặng tai không nghe được, khách đến ông chỉ nhìn miệng người ta mà gật đầu chỉ lên nhà. Tôi rón rén lên cầu thang. Bà nội đang ngồi với một bà già tóc bạc, thấy tôi bà không tỏ ra vồn vã cũng không phải vô tình:
- Cũng biết đường đến đây bây? Đến với ai?
- Cháu đi với cha bà ạ!
- Cha về à? Không có quà gì cho ông bà ư?
- Lát nữa cha cháu vào đây sau bà ạ!
- Thế mẹ mày không gửi gì cho ông bà già này sao?
Tôi còn chưa kịp trả lời thì bà nội đã quay sang bà già tóc bạc:
- Con với cháu bây giờ không ra cái gì nữa, không biết cái gì hết. Thằng Quảng (tên cha tôi) giàu lắm nhưng nó quên người cha nuôi nó khôn lớn, nó lo làm giàu cho nhà nó, cho mấy đứa con của vợ nó đi học tận trung ương...
- Không phải thế đâu bà...
Tôi chỉ nói được thế rồi bước xuống cầu thang. Ông nội nhìn tôi ú ớ, tay ông chỉ ra vườn. Khi nghe tiếng rút cây sào nứa, từ trong vườn bà nội nói vọng xuống.
- Lại vào đào xới vườn rồi đấy. Có gì ăn được chứ... À, có cây khế đó, nhưng đừng có trèo lên kẻo lại gãy. Trẻ con phá nhiều lắm rồi... Nhớ lấy sào mà chọc đấy.
Tôi cay cay sống mũi. Bất chợt nghe tiếng nói vọng ra:
- Con thằng Quảng à? Phải con thằng Quảng đó không hở bà?
- Nó đấy, thì mỗi nó... Mà cũng không chắc có phải là cháu mình không nữa.
- Thế hai đứa kia ở với ngoại của chúng à?
- Không, ở với thằng Quảng hết, thằng Quảng cho chúng đi học tận trung ương rồi.
Tôi dí tai vào câu chuyện của hai bà già. Họ đang nói gì vậy? Tôi là con của cha tôi. Ừ, thì rõ ràng thế rồi... Nhưng sao hai bà nói gì mà chỉ mỗi mình tôi là cháu? Sao lại "hai đứa kia ở với ai?”. Chuyện gì thế?
Tiếng cười của cha vọng từ nhà bên kia sang. Một cơn gió đang cuốn tôi đi xa và tôi thấy chới với...
Tôi phằm phặp bước lên cầu thang. Bà già tóc bạc nhìn tôi bằng đôi mắt xa lạ:
- Cháu chắc không biết thằng Bay là con hoang của mẹ cháu đâu nhỉ? Ai nói mà biết?
- Biết hay không thì sao... Mà bà đừng có nói mẹ cháu thế.
Lòng đầy uất nghẹn, tôi nhìn bà nội và bà già kia bằng ánh mắt thách thức. Tôi đã chạy khỏi nhà của nội như chạy trốn cái gì đó ám ảnh khủng khiếp và cảm giác đó còn đeo đuổi tôi mãi đến sau này.
Tôi có hiểu gì đâu? Từ khi sinh ra, tôi đã có anh trai và chị gái. Chúng tôi hồn nhiên lớn lên, hồn nhiên có cha có mẹ như bao người. Bí mật gia đình dù có hay không tôi vẫn chưa rõ được...
Mọi người vẫn thường nói tôi giống mẹ, anh Bay và chị Tâm giống cha. Ờ, cái mũi to thù lù của tôi không giống mẹ thì đòi giống ai nữa? Gương mặt tôi cũng hao hao giống mặt mẹ, nhưng tôi lại mang dáng hình cao ráo của cha. Chị Tâm được khen là giống cha về khuôn mặt nhưng lại có dáng người lùn như mẹ. Anh Bay mang nét lạnh lùng của mẹ nhiều hơn cha, cha luôn cười nói, còn anh với mẹ thì không...
Một lần xưa lắm, ông nội vào ở cùng gia đình tôi trong thời gian dài, anh Bay làm gì đó phật ý ông và ông đã giận dữ quát:
- Mày ngu như vậy mà cũng đòi lấy họ nhà tao à?
Lúc này tự dưng tôi lại nhớ điều đó rất rõ và những gì sâu trong ký ức lần lượt xâu chuỗi từ tâm thức tôi. Mọi thứ trong tôi bỗng chùng xuống. Lại ngồi sau xe cha về bản, bao nhiêu lần muốn bật ra câu hỏi, nhưng rồi, tôi đã không đủ can đảm để nói lên điều mà tôi thắc mắc.
***
Mâm cơm chỉ có ba người: Cha, mẹ và tôi. Tôi cố thản nhiên để tránh sự nghi ngờ của cha mẹ.
- Mẹ ơi, sao ngày xưa mẹ không đẻ thật nhiều. Giá mà con có em nữa thì chắc nhà mình vui hơn.
- Con còn chê ít sao? Nuôi ba anh em con ăn học nhiều lúc cha còn không mua nổi quần đùi mà mặc nữa kia.
Mẹ không nói gì, còn tôi vẫn hồn nhiên với trò đùa nghiệt ngã:
- Nhà mình cha mẹ đẻ thế là ít đấy, con thấy nhà bà Cao, cứ mỗi năm một người...
- So sao được nhà người ta hở con. Cha con đi biệt, mẹ ở nhà một mình nuôi ba đứa là quá sức rồi. Mà con sao vậy, hôm nay con làm sao vậy Út?
Vẫn là cha lên tiếng. Mẹ ngồi im với gương mặt não nề. Tôi chợt thấy lòng mình nhão nhuột, tôi đâu có quyền làm mẹ buồn, càng không có quyền phán xét quá khứ của cha và mẹ.
Tôi hình dung mẹ như con dao sắc lạnh. Ký ức ngày bé của tôi về mẹ là một người hay nói nhiều, nói dai dẳng. Có lần mẹ chửi mắng thậm tệ nếu một trong ba anh em tôi làm việc gì đó phật ý. Nhưng theo lời cha thì từ ngày chúng tôi "thành người" mẹ đã ít nói hơn. Đúng hay không khi mọi người nói mẹ bênh anh Bay hơn tôi với chị Tâm mỗi khi có chuyện. Chính tôi cũng cảm thấy điều đó nhưng cha tôi lại nói:
- Con trai thường gần mẹ hơn cha, con gái thì ngược lại, gần cha và thường được cha chiều hơn so với con trai. Vậy là huề nhau.
Chúng tôi buộc phải mang ý niệm đó trong đầu. Tiếng cười chị Tâm khanh khách, trong trẻo quẩn quanh đâu đây như ảo giác. Chị có biết gì không? Có băn khoăn như tôi đang băn khoăn, có rối bời như tôi đang rối bời? Nếu mẹ lấy một người đàn ông khác cha thì hình hài tôi sẽ như thế nào nhỉ? Tôi có được sinh ra không? Hay tôi là một người khác? Có thể trái tim tôi được gửi trong một hình hài khác, hay là tôi hoàn toàn không tồn tại trên đời...
***
Cậu Diêu vào trường cấp hai đón tôi về bệnh viện cùng mẹ. Ngoài sân và dọc hành lang bệnh viện có nhiều gương mặt quen thuộc của họ hàng. Họ xì xầm, méo mó, hoảng hốt... Tôi lao đi tìm mẹ. Chị y tá ôm chặt lấy tôi:
- Em gái, em gái... Em không được vào đâu. Bác sĩ đang cấp cứu cho mẹ em. Mẹ em sẽ không sao đâu...
Úp mặt vào tường, tôi khóc... Tôi không tự an ủi được mình. Tôi đang run, tôi sợ, tôi đau, và gió... Những cơn gió cuốn tôi đi trong buốt lạnh.
Khi cha phờ phạc từ biên giới về thì tôi biết bệnh của mẹ không đơn giản như cô y tá và ông bác sĩ già đã an ủi tôi. Cha nắm lấy bàn tay thô ráp của mẹ:
- Bệnh như thế mà sao để đến tận hôm nay? Sao không nói mà chịu đau chịu khổ một mình?
- Nói thì cũng đau, nói thì cũng chết. Thôi thì chết sớm khỏi chết muộn.
Giọng cha chưng hửng:
- Muốn chết thì thiếu gì cách, nhưng chết rồi thì con ở với ai? Cửa nhà bỏ cho ai?
Hai mắt mẹ ầng ậc nước. Mặt cha se lại, còn tim tôi như bị ai nặn nhào để cuối cùng thành ra một chấm nhỏ lay lắt. Mẹ tìm tay tôi áp vào tay mẹ:
- Đừng khóc con ơi. Con không vui làm sao mẹ vui được. Mẹ có lỗi đã không sinh cho con thật nhiều em trai em gái. Không phải mẹ không muốn mà là ông trời không cho. Con biết rồi phải không? ... Chắc là con đã nghe ai đó nói...?
Chẳng hiểu sao tôi không nói được câu nào, chỉ mím môi và thấy mình thật tội lỗi trước mẹ. Giọng cha khàn đặc:
- Tôi sẽ đưa bà về bệnh viện tỉnh.
- Không, để tôi được nhắm mắt ở nhà. Đừng nghĩ thêm cách gì nữa... Chết thì chết tôi có sợ gì, thà để tiền cho con cái học, tôi có sống cũng đâu giúp được gì. Chỉ tội con Nhan không còn mẹ...
Mắt mẹ ướt, mắt cha vô hồn, mắt tôi bị lớp lớp khói mờ che kín. Chợt giọng mẹ cứng cỏi lạ lùng, giọng nói ấy tôi chỉ gặp ở mẹ ngày xa xưa lắm:
- Nhan... đúng ra cha là của riêng con. Ông ấy là cha con nhưng không phải cha đẻ của anh Bay, chị Tâm. Ông ấy thật tốt với mẹ.
Tôi gục vào ngực cha khóc. Một tay cha vỗ về tôi, một tay cha nắm lấy bàn tay mẹ. Một giọt nước âm ấm rơi xuống cổ tôi. Mẹ lại cười:
- Ông ơi, thằng Bay nói là công đẻ không bằng công nuôi... Còn con Tâm chắc tôi không nói kịp... Tôi chết rồi ông lựa lời nói cho nó biết sự thật, chứ mình có lỗi quá lâu với anh chị... Tôi không còn, ông lấy ai thì lấy nhưng đừng để con khổ. Lòng ông không như thế phải không? Chưa lo được cho các con đến nơi đến chốn mà tôi bỏ đi quả là không phải...
Tôi chạy ra khỏi phòng. Tim tôi đang gào khóc. Tôi muốn lật tung cả trái đất lên để tìm phương thuốc thần kỳ về cho mẹ, để mầm sống trong mẹ lại nhú lên tươi tốt. Sao đất trời rộng lớn thế mà không ai tìm được loại thuốc nào chữa khỏi căn bệnh của mẹ?
***
Mẹ là con gái nhà giàu, là cháu gái của địa chủ. Người dân tộc vùng cao vốn ít được học chữ. Người nghèo hoặc giàu như nhà mẹ vẫn khó khăn với việc đi học, song mẹ tôi vẫn biết đọc biết viết. Con gái nhà giàu nhưng tính tình mẹ hòa nhã, giản dị. Nhà giàu nhưng mẹ lại yêu một chàng trai nghèo, nghèo đến kiệt cùng. Chàng trai ấy chẳng có gì ngoài tấm lòng, sự chân thật và đức tính cần cù. Ông bà ngoại phản đối kịch liệt chuyện tình của mẹ. Chẳng hiểu vì ngang bướng hay vì phút yếu lòng mà mẹ tôi lại có bầu, ông ngoại vẫn không lay chuyển ý định. Ông không đánh đập mẹ cũng không đuổi mẹ đi, ngược lại ông cho mẹ sinh con nhưng bằng mọi giá mẹ phải dứt bỏ người con trai nhà nghèo ấy.
Cuối cùng ý nguyện của ông ngoại cũng thành công, người ấy của mẹ đã đi lấy vợ. Chín tháng mười ngày mẹ trở dạ sinh con, một bé trai, là anh ấy bây giờ. Khi anh Bay lẫm chẫm biết đi thì cha tôi có mặt trong ngôi nhà của ông ngoại.
Cha tôi, người dân tộc thiểu số ít ỏi có mặt trong đơn vị bộ đội làm nghĩa vụ trên miền đất có gia đình ngoại đang sống. Hơn những anh lính miền xuôi, cha có thể nói chuyện tiếng Thái với gia đình ngoại và bà con ở bản. Ông ngoại cảm tình đặc biệt với cha và tỏ ý muốn gả con gái cho cha: dì Lam, em gái của mẹ, rất đẹp và lại khéo nữa.
Nhiều lần ông ngoại nhìn cha tôi mà nói:
- Số cậu sau này sẽ làm quan to đấy.
Còn cha, người vốn có một tuổi thơ cơ cực, sinh ra và lớn lên ở một bản nhỏ dọc sông Lam. Bà nội mất khi chú út mới được vài tháng tuổi. Ông nội đi bước nữa, cha và các chú chịu khổ cực trăm đường. Ông nội hùa theo vợ kế hành hạ chính con mình. Cha tôi vì lén đi học mà hôm nào cũng phải làm việc từ xế trưa cho đến tận chiều: cha phải làm cho xong việc bà dì giao khoán, nếu không sẽ bị ông bà chửi mắng, đánh đập. Nhiều hôm cha về nhà trong phờ phạc, cơm cũng chẳng có mà ăn. Láng giềng thương anh em cha nhưng cũng không thể bao bọc những đứa con mồ côi ấy quanh năm suốt tháng. Bao nhiêu lần cha nuốt nước mắt dắt em ra bãi hoang của bản tìm ổi xanh ăn qua cơn đói.
Không thể khóc thành tiếng nhưng máu và nước mắt đọng lại trong lòng cha, để rồi từ chính những cực nhọc, cha càng có những khát vọng cháy bỏng trong cuộc sống.
Cha nhập ngũ. Những tháng ngày tân binh khổ ải, song may mắn hơn là cha được ăn no, được mặc áo quần lành lặn. Bằng chút ít kiến thức và sự chăm chỉ, cha đã không lẫn vào hàng nghìn tân binh khác. Với lại cha là người dân tộc thiểu số, và cha được điều đi học lớp y tá để về phục vụ trong đơn vị.
Cha quyết định lấy mẹ chứ không kết duyên cùng dì Lam xinh đẹp. Ông bà nội phản đối quyết liệt vì họ đã chọn cho cha một người con gái chăm chỉ, nết na ở bản. Nhưng cha không theo ý ông bà mà làm theo ý mình. Ông nội giận dữ chửi cha là đồ mồ côi, đồ không được nuôi dạy tử tế, bất hiếu...
Cha đưa mẹ về cái bản nhỏ có gia đình ông cậu của cha, chính là bản mà gia đình tôi sống bây giờ.
Cha mẹ sống với nhau được gần ba năm mà mẹ vẫn chưa sinh được mụn con nào cho cha. Thế rồi cuối năm 1969, cha lên đường vào Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ. Lúc ấy phần hồn tôi đang nhởn nhơ ở cõi xa tít tắp, tôi nhìn cha đánh giặc mà reo ca với mẹ rằng “Cha sẽ trở về với mẹ, mẹ yêu thương của con ơi".
Sau ngày miền Nam giải phóng, cha tôi trở về thật. Cha về trong vẹn nguyên và lành lặn, có lẽ cha tôi là trường hợp hy hữu? Cha về đến nhà, ngôi nhà không chỉ có mẹ và anh Bay mà còn thêm một bé gái. Cha nhìn đứa bé chăm chăm... Mẹ hiểu và ôm đứa bé gái òa khóc. Đứa bé ấy là chị Tâm, con của bác gái tôi, chị của mẹ. Bác muộn duyên nên sinh con sau mẹ. Khi bác gái mới mang thai chị Tâm mấy tháng thì tin bác trai hy sinh ở chiến trường miền Nam bay về. Không gì có thể làm nguôi được đau thương, bác tôi ốm triền miên và rồi chị Tâm sinh ra thiếu ngày thiếu tháng. Không bao lâu thì căn bệnh ung thư phổi hiểm nghèo cướp bác đi mãi mãi. Chị Tâm nhỏ như con mèo hen, suốt ngày gào khóc. Không thể có ai hợp lý hơn là mẹ, chỉ có mẹ mới nuôi được chị. Mẹ đón chị Tâm về, lay lắt với cuộc sống vốn đã túng thiếu và khốn khó, nhưng chị Tâm cũng dần được thay da đổi thịt, hơn nữa mẹ không cô độc vì còn có nhà ngoại và bên nội của chị Tâm. Bắt đầu bập bẹ tập nói tiếng đầu tiên, chị gọi mẹ tôi là mẹ, và ngày cha tôi trở về từ chiến trường thì cha tôi cũng thành cha của chị.
***
Có một dòng sông chầm chậm chảy qua đỉnh đầu tôi, dòng sông đầy ắp tiếng cười. Cha về phép, ông nói thèm ăn món rêu đá do chính tay mẹ nấu. Mẹ dắt anh em tôi ra sông. Anh Bay bơi ra giữa dòng nước và ôm vào bờ những mớ rêu xanh ngắt, mẹ thì ra chỗ nước chảy xiết lấy chân quờ những mớ rêu non. Cuối cùng mấy mẹ con ra sức giũ rêu thật sạch, vắt khô nước mang về. Chị Tâm có nhiệm vụ đi lấy rau thơm: mùi tàu, thì là... Mẹ giã ớt tiêu rừng tỏa vị cay cay, tôi chặt lá dong trong vườn. Cha làm thịt gà, băm nhỏ tất cả các thứ, trộn đều và lấy lá dong đùm lại thành từng đùm nhỏ, đem hông. Mùi thơm của rêu tỏa theo khói thơm lừng cả xóm nhỏ, thật khó quên.
... Những buổi sáng mẹ hông xôi rồi gọi anh em tôi dậy ăn đi học. Xôi chỉ có vài hạt nếp, khi thì trộn với sắn khi thì trộn với củ nâu mà sao ăn lại thấy ngon đến thế?
Chị em tôi theo mẹ lên đồi, đứa nhặt sắn vào gùi, đứa hái rau dền hoang, anh Bay thì thường trèo lên mấy ngọn cây cao để tìm tổ chim. Bao giờ cũng vậy, những củ sắn to nguyên được lặt vào gùi của mẹ, những củ sắn nhỏ, vụn thì chúng tôi bỏ vào gùi, cõng trên lưng. Ý nghĩ "người lớn phải làm tất cả mọi việc nặng nề, trẻ con rồi cũng sẽ làm khi lớn" luôn ám ảnh chúng tôi...
Những lần bị mẹ mắng không đứa nào dám nhúc nhích, đứa nào cũng sợ cơn giận của mẹ. Đứa nào cũng xây xẩm mày mặt khi mẹ giáng bàn tay to xù lên thân thể mỗi đứa.
Mẹ rất yêu chiều chúng tôi nhưng mẹ cũng thật hung bạo, cộng với lối sống của cha: những nghĩ suy cũng như sự khuôn phép, ngăn nắp, chúng tôi trở thành những đứa con ngoan, cứng cỏi, cứng cỏi đến nỗi thường nhìn cuộc sống theo cách rập khuôn.
Qua năm tháng, anh em tôi lớn khôn. Mái nhà tranh và những cái cột chôn sâu dưới đất được tháo dỡ và đào bới lên. Những người thợ miền xuôi cưa - bào - khoét - đục rồi lắp ghép, dựng lên một ngôi nhà sàn to, thoáng và tuyệt đẹp. Những viên ngói đỏ lợp thay cho mái tranh, ván gỗ thưng thay cho phên nứa. Một ngôi nhà bằng gỗ hoàn toàn.
Nhà tôi không phải ngôi nhà kê đầu tiên ở bản nhưng là ngôi nhà ván gỗ thưng đẹp nhất. Mọi người nói vì cha tôi là bộ đội, là người nhà nước nên nhà tôi mới giàu. Không! Tôi biết làm nhà là sự cố gắng lớn lao của cha mẹ. Đàn bò trong chuồng bị bán đi gần hết. Những thiếu thốn trong gia đình người ngoài làm sao biết được. Cả hạnh phúc trong gia đình cũng thế. Tôi biết mẹ và cha là cặp vợ chồng không lấy nhau vì tình yêu mà chỉ có tình thương. Thỉnh thoảng cha mẹ cãi nhau, tôi lại nghe mẹ nói sự thành đạt của cha là nhờ có mẹ. Nhưng mẹ lại đuối lý khi nói đến việc nuôi các con ăn học.
***
Mẹ thì thào:
- Các con phải thương nhau, giúp nhau, đừng như gà mất mẹ, đừng bao giờ làm những điều không hay mà cha buồn lòng. Cha là người cha tốt nhất của các con.
- Mẹ... mẹ ơi...
Chị Tâm gục đầu vào người mẹ. Mẹ quờ tay lên mái tóc mềm của chị:
- Sống làm người khổ lắm... Con gái khổ... con càng khổ... con ơi... Dì...
Chị Tâm không hiểu mẹ muốn nói điều gì, và nếu một ngày chị biết, chị sẽ là người đau khổ nhất.
- Sống đừng như đám rêu giữa lòng sông, không trôi theo dòng nước nhưng lại không bao giờ bám vào đá được... Đừng như loài rêu...
Vì sao cha lấy mẹ? Vì cái gì chứ?
Cha lấy mẹ vì tình thương.
Mẹ cũng lấy cha vì tình thương.
Hơn một lần chị Tâm nói với tôi về điều đó. Tôi khẳng định cha mẹ hiểu nhau, thương nhau, có sự đồng điệu, sẻ chia trong suy nghĩ... Tôi ra đời, đó là bằng chứng của một tình yêu, một tình thương có thật...
***
Bao năm đã trôi qua kể từ ngày mẹ mất.
Bây giờ cha tôi đã nghỉ hưu, ông về sống trong ngôi nhà sàn rộng mà giờ đã có điện sáng khắp trong nhà ngoài ngõ. Những cơn gió không còn chỗ trêu đùa như với những ngọn đèn dầu lay lắt ngày xưa. Anh Bay và chị Tâm đều đã có gia đình và đi làm xa, ngôi nhà sàn to chỉ đông đủ vào những ngày Tết và ngày giỗ mẹ. Tôi cũng đi làm xa nhưng chưa vướng chuyện chồng con nên vẫn thường xuyên về với cha mỗi cuối tuần. Tôi thương cha và tôi hay nhớ mẹ.
Hôm nay tôi lại về cùng cha và mẹ, về cùng ngôi nhà sàn gỗ, về cùng dòng sông nhỏ...
Cha đã già đi nhiều, sức khỏe ông không tốt lắm, ông mắc chứng thấp khớp và mỗi khi trái gió trở trời ông lại đau nhiều hơn. Tôi thực sự không an lòng mỗi lần nghĩ cha già rồi mà lại ở một mình, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ một điều gì đó. Dạo đó tôi hay khóc, tôi sợ, vẫn những lo sợ mơ hồ.
Một mình ngồi bên dòng nước, dòng nước trong soi rõ những đám rêu dập dờ trên những hòn đá dưới lòng sông, tôi chợt nhìn thấy bàn chân mẹ quờ đám rêu non giữa dòng nước xiết. Mẹ trượt chân và cha kéo bàn tay mẹ trở vào bờ...
Lòng tôi quay quắt.
Kha Thị Thường
Bình luận (0)