Từ cải cách thể chế đến khát vọng doanh nghiệp Việt vươn lên

Cải cách thể chế tạo ra không gian phát triển, nhưng chính doanh nghiệp phải biến không gian ấy thành công nghệ, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.

PCI 2.0 cùng Chỉ số hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI) đang mở ra cách tiếp cận mới, trong đó thành công của cải cách không chỉ được đo bằng số thủ tục được cắt giảm mà còn bằng việc doanh nghiệp Việt Nam có thể lớn mạnh đến đâu.

Từ "chấm điểm chính quyền" đến đo sức cạnh tranh

Hơn 20 năm trước, PCI ra đời với một ý tưởng mới: trao cho doanh nghiệp tư nhân tiếng nói trong việc đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương.

Qua thời gian, PCI trở thành một nguồn dữ liệu quan trọng phản ánh môi trường kinh doanh, từ tính minh bạch, chi phí gia nhập thị trường đến tính năng động của chính quyền.

Tuy nhiên, khi yêu cầu phát triển của nền kinh tế thay đổi, cách nhìn về chất lượng môi trường kinh doanh cũng cần thay đổi.

PCI 2.0 và Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 được VCCI công bố ngày 15.5.2026 đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý. Bộ chỉ số mới không chỉ đặt câu hỏi chính quyền điều hành tốt đến đâu, mà còn hướng tới câu hỏi sâu hơn: môi trường thể chế có thực sự giúp khu vực kinh tế tư nhân đầu tư, đổi mới, nâng năng suất và tăng sức cạnh tranh hay không?

Khảo sát được thực hiện với 5.128 doanh nghiệp và hộ kinh doanh tại 34 tỉnh, thành phố; trong đó lần đầu tiên có 1.001 hộ kinh doanh cá thể tham gia.

Từ cải cách thể chế đến khát vọng doanh nghiệp Việt vươn lên- Ảnh 1.

VCCI công bố Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025

PCI 2.0 gồm 9 chỉ số thành phần với 98 chỉ tiêu. Song song đó, Chỉ số hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI) được xây dựng độc lập với 23 chỉ tiêu, hướng tới đo lường hiệu quả của khu vực kinh tế tư nhân.

Thay vì chỉ tập trung vào thứ hạng, PCI 2.0 phân loại chất lượng điều hành thành 6 nhóm. Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ và Quảng Ninh nằm trong nhóm các địa phương có chất lượng điều hành nổi bật.

Điều đáng chú ý là cuộc cạnh tranh giữa các địa phương đang dần chuyển từ câu hỏi "đứng thứ mấy" sang câu hỏi thực chất hơn: chất lượng điều hành đang tạo ra điều kiện gì cho doanh nghiệp?

Từ cải cách thể chế đến khát vọng doanh nghiệp Việt vươn lên- Ảnh 2.

Các địa phương thuộc nhóm chất lượng điều hành “Tốt” không ghi điểm nhờ một lợi thế đơn lẻ, mà nhờ khả năng cải thiện tương đối đồng đều trên nhiều chiều cạnh

Cải cách cần thời gian để trở thành sức cạnh tranh

Một vấn đề quan trọng được dữ liệu PCI 2.0 gợi ra là tác động của cải cách không phải lúc nào cũng xuất hiện ngay lập tức.

Chất lượng điều hành được đo từ PCI 2022 có mối quan hệ đáng kể với kết quả BPI năm 2025. Điều này cho thấy cải cách thể chế có độ trễ.

Một thủ tục được đơn giản hóa hôm nay không lập tức tạo ra một nhà máy mới. Một quy định minh bạch hơn cũng không ngay lập tức làm năng suất doanh nghiệp tăng lên.

Vì vậy, nếu chỉ đo thành công của cải cách bằng số thủ tục được cắt giảm hay thời gian giải quyết hồ sơ, có thể chưa phản ánh đầy đủ kết quả cuối cùng.

Thước đo sâu hơn phải là: doanh nghiệp có đầu tư nhiều hơn không, có lớn lên không, có đổi mới không, năng suất có tăng không và có bước lên những nấc thang giá trị cao hơn không?

Từ cải cách thể chế đến khát vọng doanh nghiệp Việt vươn lên- Ảnh 3.

Doanh nghiệp cần thời gian để hình thành niềm tin, đưa ra quyết định đầu tư, huy động vốn, xây dựng hệ thống quản trị, tiếp nhận công nghệ và tổ chức lại sản xuất

Bốn tầng năng lực của doanh nghiệp

Từ góc nhìn này, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam có thể nhìn qua 4 tầng.

Trước hết là năng lực cạnh tranh về thể chế. Doanh nghiệp cần môi trường minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo. Nhưng chỉ khoảng 6 - 8% doanh nghiệp có thể thường xuyên dự báo những thay đổi chính sách. Trong khi đó, 51,9% doanh nghiệp tìm kiếm thông tin pháp luật qua mạng xã hội thay vì các kênh chính thức.

Tiếp theo là năng suất. Khi rào cản thủ tục giảm xuống, doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực quản trị, mở rộng quy mô, tối ưu chuỗi cung ứng và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.

Thứ ba là đổi mới sáng tạo. PCI 2.0 đã đưa nội dung này vào đánh giá. Thực tế chỉ 6,8% doanh nghiệp Việt Nam có chứng nhận chất lượng quốc tế, thấp hơn Malaysia ở mức 17,8% và Thái Lan 11,9%. Đây là khoảng cách cho thấy dư địa nâng cấp chất lượng và năng lực cạnh tranh còn rất lớn.

Cuối cùng là năng lực thu hút và tạo ra đầu tư chất lượng cao. Trong cạnh tranh dài hạn, lợi thế về chi phí hay ưu đãi thuế không đủ. Doanh nghiệp cần môi trường ổn định để dám đầu tư vào công nghệ, con người và đổi mới.

Khi doanh nghiệp biến cơ hội thành nội lực

Mối liên hệ giữa thể chế và năng lực doanh nghiệp không chỉ nằm trên các bảng chỉ số. Đó là quá trình tích lũy kéo dài nhiều năm, khi doanh nghiệp có đủ niềm tin để đưa ra những quyết định đầu tư dài hạn.

Tân Hiệp Phát là một trường hợp có thể nhìn thấy quá trình này.

Thành lập năm 1994, doanh nghiệp từ một cơ sở sản xuất nước giải khát từng bước xây dựng năng lực sản xuất quy mô lớn. Hiện Tân Hiệp Phát vận hành 4 cụm nhà máy với 12 dây chuyền chiết rót vô trùng Aseptic tại các vùng kinh tế trọng điểm.

Trong quá trình phát triển, doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, đổi mới, số hóa và quản lý chất lượng. Sản phẩm đã tiếp cận các thị trường như Pháp, Hà Lan, Australia và Canada, đồng thời đáp ứng những tiêu chuẩn, chứng nhận như FDA, Halal, ISO và HACCP.

Điều đáng nói không chỉ nằm ở quy mô nhà máy, mà ở quá trình chuyển đổi năng lực: từ sản xuất dựa vào kinh nghiệm sang quản trị bằng công nghệ, dữ liệu và hệ thống; từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng, đổi mới và năng lực vận hành.

Theo ông Nguyễn Duy Hưng, thành viên Hội đồng quản trị Tân Hiệp Phát, từ những cơ hội được mở ra bởi quá trình hoàn thiện thể chế, doanh nghiệp phải biến cơ hội thành năng lực cạnh tranh thông qua đầu tư bền bỉ vào công nghệ, đổi mới, chất lượng và con người.

Từ cải cách thể chế đến khát vọng doanh nghiệp Việt vươn lên- Ảnh 4.

Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời đã mở ra không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân

Cải cách để doanh nghiệp lớn lên

Nhìn từ câu chuyện trên, cải cách thể chế và phát triển doanh nghiệp không phải hai quá trình tách rời.

Thể chế tốt tạo không gian cho doanh nghiệp đầu tư. Doanh nghiệp đầu tư tạo ra năng lực sản xuất. Năng lực sản xuất tạo ra năng suất. Năng suất tạo ra sức cạnh tranh. Và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trở thành một phần sức mạnh của nền kinh tế.

Từ cải cách thể chế đến khát vọng doanh nghiệp Việt vươn lên- Ảnh 5.

Ông Nguyễn Duy Hưng: “Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam giúp doanh nghiệp nhìn lại chính mình để minh bạch hơn, quản trị tốt hơn, đầu tư dài hạn hơn và phát triển bền vững hơn”

Vì vậy, PCI đang dần vượt khỏi ý nghĩa ban đầu là công cụ để doanh nghiệp "chấm điểm" chính quyền. Quan trọng hơn, đó là cách để Nhà nước và doanh nghiệp cùng nhìn vào một mục tiêu: xây dựng môi trường kinh doanh đủ minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn.

Sau cùng, thành công của cải cách không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu thủ tục được cắt giảm.

Thước đo quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam lớn lên, đầu tư dài hạn hơn, ứng dụng công nghệ tốt hơn, nâng năng suất cao hơn và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.