Mô hình KCN chuyên sâu đầu tiên tại VN
KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 ra đời trong bối cảnh VN và Nhật Bản thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển các ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và thu hút dòng vốn đầu tư Nhật Bản vào VN. Đây là mô hình được kỳ vọng khác với một KCN thông thường: không chỉ có đất sạch và nhà xưởng, mà phải có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp và môi trường đầu tư đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn quốc tế. Trên nền tảng đó, Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ phát triển KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 tại khu vực Phú Mỹ, với quy mô khoảng 999 ha. Vị trí của khu công nghiệp là một lợi thế đặc biệt khi nằm gần cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, tạo điều kiện kết nối trực tiếp giữa các nhà máy với hệ thống logistics và thị trường quốc tế. Ngay từ quá trình quy hoạch, Phú Mỹ 3 đã được định hướng theo mô hình hạ tầng phục vụ các ngành công nghiệp có yêu cầu cao về kỹ thuật. Hệ thống điện, nước, khí tự nhiên, khí công nghiệp, viễn thông, xử lý nước thải và giao thông nội khu được đầu tư đồng bộ. Các tuyến đường và hệ thống kỹ thuật được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của những dự án công nghiệp quy mô lớn, trong đó có các ngành như luyện kim, hóa chất, vật liệu, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ và logistics.
Một trong những điểm khác biệt của Phú Mỹ 3 là cách tiếp cận "một cửa" đối với nhà đầu tư. Thay vì chỉ cung cấp mặt bằng, chủ đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án, từ các thủ tục đầu tư, xây dựng đến khi nhà máy đi vào hoạt động. Với những tập đoàn quốc tế có quy trình đầu tư phức tạp, việc có một đầu mối hỗ trợ xuyên suốt giúp giảm thời gian và chi phí triển khai. Thời hạn sử dụng đất lên tới 70 năm cũng là một yếu tố được Phú Mỹ 3 sử dụng để thu hút những dự án có quy mô vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài.

Cảng cạn Phú Mỹ 3 kết nối cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, cung cấp các dịch vụ: chuyển tải, lưu kho, lưu bãi, xếp dỡ, thông quan hàng hóa…tiết kiệm tối đa chi phí logistics
ẢNH: NVCC
Có thể nói, tư duy ban đầu của Thanh Bình Phú Mỹ là xây dựng một khu công nghiệp không chỉ để "cho thuê đất", mà tạo ra một nền tảng sản xuất hoàn chỉnh cho nhà đầu tư quốc tế. Sau hơn một thập niên phát triển, định hướng đó đã tạo ra một hệ thống doanh nghiệp ngày càng đa dạng. Từ những ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hỗ trợ ban đầu, Phú Mỹ 3 dần hình thành một mạng lưới gồm sản xuất, cung ứng nguyên liệu, năng lượng, logistics và các dịch vụ công nghiệp hỗ trợ. Chính hệ thống này trở thành nền tảng để Phú Mỹ 3 bước sang giai đoạn phát triển tiếp theo: từ một KCN chuyên sâu sang mô hình KCN xanh và sinh thái.
Tiên phong chuyển đổi mô hình KCN xanh và sinh thái
Nếu giai đoạn đầu, mục tiêu của Phú Mỹ 3 là tạo ra một khu công nghiệp có hạ tầng đạt chuẩn quốc tế, thì giai đoạn tiếp theo đặt ra một yêu cầu khác: làm thế nào để hoạt động sản xuất vừa hiệu quả vừa giảm tác động đến môi trường và sử dụng tài nguyên tiết kiệm hơn. Phú Mỹ 3 đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung với công suất giai đoạn đầu khoảng 9.000 m³/ngày đêm, tổng công suất thiết kế có thể đạt 45.000 m³/ngày đêm. Nước thải sau xử lý được kiểm soát theo tiêu chuẩn môi trường, cùng hệ thống quan trắc tự động nhằm theo dõi chất lượng nước trước khi xả ra môi trường. Tuy nhiên, câu chuyện xử lý nước thải mới chỉ là "bề nổi" của quá trình xanh hóa khu công nghiệp. Điểm quan trọng hơn nằm ở việc Phú Mỹ 3 bắt đầu hình thành các mối liên kết giữa những doanh nghiệp trong khu công nghiệp, trong đó chất thải hoặc sản phẩm phụ của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác.
Một ví dụ điển hình là Công ty TNHH Zinc Oxide Việt Nam, một doanh nghiệp tại KCN phú Mỹ 3 đã sử dụng bụi lò hồ quang điện phát sinh trong ngành thép để sản xuất các sản phẩm chứa kẽm. Theo số liệu được công bố, năm 2024 doanh nghiệp đã xử lý khoảng 91.570 tấn bụi và thu hồi khoảng 30.200 tấn oxit kẽm tinh khiết. Nếu nhìn riêng từng nhà máy, đây là hoạt động xử lý chất thải. Nhưng nếu đặt trong tổng thể KCN, đây là một hình thức cộng sinh công nghiệp: chất thải từ quá trình sản xuất thép được đưa trở lại chu trình sản xuất thay vì chỉ được xem là thứ phải loại bỏ. Đó là nền tảng quan trọng của kinh tế tuần hoàn.

Nhà máy xử lý nước thải tập trung của KCNCS Phú Mỹ 3 được thiết kế và xây dựng bởi Kobelco Eco-Solutions, có khả năng xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cột A nghiêm ngặt nhất
ẢNH: NVCC
Bên cạnh việc tận dụng phế liệu và chất thải, các doanh nghiệp trong KCN Phú Mỹ 3 còn sử dụng chung nhiều hệ thống hạ tầng và dịch vụ như khí tự nhiên, khí công nghiệp, xử lý nước thải, logistics và các dịch vụ kỹ thuật. Những mô hình này giúp giảm đầu tư trùng lặp, giảm lượng tài nguyên sử dụng riêng lẻ và tạo điều kiện để các doanh nghiệp liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Quá trình chuyển đổi này có sự hỗ trợ đáng kể từ Nhật Bản. Từ năm 2023, JICA triển khai chương trình hỗ trợ kỹ thuật hướng tới xây dựng khu công nghiệp kiểu mẫu, khu công nghiệp thông minh và sinh thái tại khu vực Phú Mỹ. Đây là sự tiếp nối đáng chú ý của quá trình hợp tác Việt Nam - Nhật Bản: nếu Nhật Bản từng đóng vai trò quan trọng trong ý tưởng hình thành KCN chuyên sâu, thì kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật của Nhật Bản tiếp tục được sử dụng trong quá trình chuyển đổi sang mô hình sinh thái. Hiện nay, Thanh Bình Phú Mỹ đang nộp hồ sơ đề nghị công nhận KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 là KCN sinh thái. Theo thông tin mới nhất, hồ sơ đã được đánh giá và cơ bản đáp ứng các nhóm tiêu chí bắt buộc, đồng thời đang tiếp tục hoàn thiện các thủ tục để trình UBND TP.HCM xem xét cấp chứng nhận. Nếu được công nhận, đây sẽ là một dấu mốc đáng chú ý đối với Phú Mỹ 3 và cũng phản ánh xu hướng chuyển đổi của các KCN Việt Nam: từ việc chỉ quan tâm đến diện tích đất, hạ tầng và tỷ lệ lấp đầy sang sử dụng hiệu quả tài nguyên, cộng sinh công nghiệp, giảm phát thải và hướng tới kinh tế tuần hoàn.
Sức hút FDI Nhật Bản và các tập đoàn toàn cầu
Sự thay đổi của Phú Mỹ 3 có thể nhìn thấy rõ nhất qua dòng vốn đầu tư mà KCN này thu hút. Theo số liệu được công bố, đến năm 2026, Phú Mỹ 3 đã thu hút khoảng 51 dự án với tổng vốn đầu tư gần 6 tỉ USD, với các nhà đầu tư đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, châu Âu, Đài Loan và nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác. Trong đó, Nhật Bản vẫn là một nhóm nhà đầu tư quan trọng. Các doanh nghiệp Nhật Bản tại đây hoạt động trong nhiều lĩnh vực như hóa chất, vật liệu, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, khí công nghiệp, logistics và sản xuất công nghiệp. Sự hiện diện của các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, Mỹ, châu Âu và các nền kinh tế khác cho thấy khu công nghiệp đang trở thành một địa điểm sản xuất có tính quốc tế cao hơn. Với lợi thế vị trí gần cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, các ngành công nghiệp sử dụng khối lượng lớn nguyên liệu hoặc xuất khẩu sản phẩm với khối lượng lớn, khoảng cách ngắn tới cảng giúp giảm chi phí logistics và thời gian vận chuyển. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn thiện và đồng bộ cũng giúp các nhà đầu tư không phải tự xây dựng toàn bộ hệ thống điện, nước, khí và xử lý nước thải phục vụ nhà máy mà có thể kết nối với hệ thống hạ tầng chung của khu công nghiệp. Đây là những yếu tố có thể giúp các dự án công nghiệp lớn có thêm cơ sở để tính toán kế hoạch đầu tư dài hạn. Nhưng trong bối cảnh dòng vốn FDI đang thay đổi, những yếu tố truyền thống này ngày càng chưa đủ.
Các tập đoàn quốc tế hiện không chỉ quan tâm đến đất và chi phí sản xuất. Các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon, sử dụng năng lượng, nguồn nguyên liệu và tiêu chuẩn ESG ngày càng trở thành một phần trong quyết định đầu tư. Đây chính là nơi mô hình KCN sinh thái có thể tạo ra một lợi thế mới cho Phú Mỹ 3. Một ví dụ là dự án của Tokuyama VN. Tháng 8.2026, doanh nghiệp Nhật Bản này khánh thành nhà máy sản xuất polysilicon tại Phú Mỹ 3 với vốn đầu tư hơn 60 triệu USD và công suất tối đa khoảng 4.955 tấn/năm. Sự xuất hiện của dự án sản xuất polysilicon cho thấy cơ cấu đầu tư tại Phú Mỹ 3 đang mở rộng từ những ngành công nghiệp nặng, hóa chất và vật liệu truyền thống sang những sản phẩm có liên quan đến chuỗi công nghệ cao, điện tử và bán dẫn.
Một dự án khác của Nakano Industries, doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư sản xuất, tái sử dụng và tái chế thùng phuy thép tại Phú Mỹ 3 cũng đã chứng tỏ sự giao thoa rõ rệt giữa sản xuất công nghiệp và kinh tế tuần hoàn. Những dự án như vậy cho thấy sức hút của Phú Mỹ 3 không chỉ nằm ở khả năng cung cấp mặt bằng. Giá trị ngày càng nằm ở hệ sinh thái mà khu công nghiệp có thể cung cấp cho nhà đầu tư: vị trí cảng biển, hạ tầng kỹ thuật, logistics, năng lượng, dịch vụ một cửa, hệ thống môi trường, cộng sinh công nghiệp. Đây cũng là hướng đi của Phú Mỹ 3 trong giai đoạn tiếp theo. Nếu giai đoạn đầu là xây dựng một KCN chuyên sâu để thu hút các nhà đầu tư quốc tế, thì giai đoạn hiện nay là xây dựng một hệ sinh thái có khả năng giữ chân và thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới.
Mở rộng cơ hội hợp tác Việt - Lào
Trong khuôn khổ chương trình Đối thoại Hữu nghị TP.HCM lần thứ 3 năm 2026 (FD 2026) do UBND TP.HCM tổ chức giữa tháng 9 vừa qua, KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 (KCNCS Phú Mỹ 3) đã vinh dự đón tiếp đoàn công tác tỉnh Champasak (Lào) do ông Alounxay Sounnalath - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Champasak làm trưởng đoàn đến tham quan, tìm hiểu thực tế và trao đổi về mô hình phát triển, vận hành khu công nghiệp. Chuyến làm việc góp phần mở ra cơ hội hợp tác trong lĩnh vực phát triển hạ tầng khu công nghiệp và logistics giữa hai bên.
Trong chuyến thăm, đoàn công tác tỉnh Champasak tìm hiểu quá trình hình thành, đầu tư và phát triển KCNCS Phú Mỹ 3, các chính sách ưu đãi dành cho nhà đầu tư, quy trình xử lý nước thải, cũng như phương án giải phóng mặt bằng, đền bù cho người dân của KCNCS Phú Mỹ 3.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Alounxay Sounnalath đánh giá cao mô hình vận hành và hệ thống hạ tầng của KCNCS Phú Mỹ 3 và cho biết tỉnh Champasak hiện đang có 3 khu công nghiệp gồm các khu vực giáp Thái Lan, Campuchia và khu trung tâm do Nhật Bản đầu tư cùng 1 dự án quy hoạch khu công nghiệp mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư trong thời gian tới. Qua đó, ông Alounxay Sounnalath cũng bày tỏ mong muốn Công ty Cổ phần Thanh Bình - Phú Mỹ, chủ đầu tư KCNCS Phú Mỹ 3 có thể sang khảo sát thực địa tại Champasak, trao đổi khả năng hợp tác trong việc phát triển hạ tầng khu công nghiệp và logistics.









Bình luận (0)