Phương Mỹ Chi mới đây vướng tranh luận khi sử dụng hình ảnh chiếc khăn Piêu trên trang phục quảng bá dự án Dân chơi dân ca. Nữ ca sĩ sử dụng chiếc khăn đội đầu phổ biến của phụ nữ Thái ở Tây Bắc làm điểm nhấn trên váy. Hình ảnh sau đó nhận nhiều phản ứng từ công chúng. Một bộ phận khán giả cho rằng cách đặt khăn trên váy chưa phù hợp với cách sử dụng truyền thống của vật phẩm gắn với văn hóa Thái.

Phương Mỹ Chi gây tranh luận khi sử dụng khăn Piêu trên trang phục quảng bá dự án Dân chơi dân ca
ẢNH: BTC
Hoàng Thùy Linh cũng là trường hợp tiêu biểu trong việc đưa chất liệu văn hóa dân gian vào nhạc pop. Từ Tứ phủ, Để Mị nói cho mà nghe, Gieo quẻ đến See tình, nữ ca sĩ liên tục khai thác hình ảnh, âm thanh và chất liệu văn hóa Việt. Những sản phẩm này từng gây tranh luận, nhưng đồng thời cho thấy khả năng đưa chất liệu truyền thống đến với công chúng trẻ bằng ngôn ngữ hiện đại. See tình sau đó trở thành hiện tượng trên nhiều nền tảng quốc tế, cho thấy những yếu tố mang tính địa phương vẫn có thể tiếp cận khán giả toàn cầu khi được chuyển hóa phù hợp.
Làm mới văn hóa, vì sao cứ phải tranh cãi?
Theo tiến sĩ Hoàng Sơn Giang, chuyên gia văn hóa, ranh giới không nằm ở việc nghệ sĩ có được phép thay đổi hay không, mà nằm ở chỗ sự thay đổi đó được thực hiện trên nền tảng hiểu biết như thế nào và có làm sai lệch, hạ thấp hay xúc phạm giá trị mà cộng đồng chủ thể trân trọng hay không.
Một chất liệu văn hóa hoàn toàn có thể được cách điệu về màu sắc, hình thức, âm nhạc, ngôn ngữ biểu đạt để bước vào đời sống đương đại. Nhưng với những yếu tố gắn với tín ngưỡng, nghi lễ, biểu tượng thiêng, bản sắc tộc người hoặc có quy tắc sử dụng riêng thì nghệ sĩ cần thận trọng hơn rất nhiều. "Sáng tạo không có nghĩa là tách một biểu tượng ra khỏi toàn bộ ý nghĩa văn hóa của nó rồi sử dụng theo bất cứ cách nào", ông nhận định.
Theo chuyên gia này, nghệ sĩ cần tìm hiểu nguồn gốc, chủ thể văn hóa, chức năng, ý nghĩa biểu tượng, không gian sử dụng và những điều kiêng kỵ nếu có. Với văn hóa của các cộng đồng dân tộc, tín ngưỡng hoặc di sản sống, việc tham vấn nhà nghiên cứu, nghệ nhân và cộng đồng chủ thể càng cần thiết, thay vì chỉ xử lý khi tranh luận đã xảy ra.
Thạc sĩ Trần Xuân Tiến, chuyên gia báo chí truyền thông, cho rằng việc đưa văn hóa Việt vào MV, thời trang hay các sản phẩm giải trí có thể góp phần quảng bá văn hóa ra thế giới. Tuy nhiên, di sản cũng thuộc về ký ức tập thể và căn tính cộng đồng. Theo thạc sĩ Trần Xuân Tiến, tranh luận thường xuất hiện khi có sự xung đột giữa tư duy bảo tồn và nhu cầu tiếp biến. "Chính tâm trạng lo lắng bị chiếm đoạt hay thương mại hóa bóp méo giá trị thiêng liêng khiến công chúng dễ kích hoạt cơ chế phòng vệ văn hóa trên không gian mạng vốn giàu tính phân cực", ông phân tích.

See Tình của Hoàng Thùy Linh trở thành hiện tượng quốc tế, cho thấy chất liệu văn hóa Việt có thể chạm đến khán giả toàn cầu khi được chuyển hóa phù hợp
ẢNH: CHỤP MÀN HÌNH TỪ MV SEE TÌNH
Công chúng có quyền phản biện, nghệ sĩ cũng cần quyền thử nghiệm
Tiến sĩ Hoàng Sơn Giang cho rằng phản biện của công chúng là cần thiết, đặc biệt khi người lên tiếng chính là thành viên của cộng đồng văn hóa có liên quan. Những phản hồi ấy giúp nghệ sĩ nhận ra có những tầng nghĩa mà người ngoài cộng đồng rất khó nhận biết.
Tuy nhiên, phản biện nên hướng vào sản phẩm, cách sử dụng và vấn đề văn hóa cụ thể, thay vì chuyển thành công kích cá nhân, quy chụp động cơ hay phủ nhận toàn bộ nỗ lực của nghệ sĩ. “Một chi tiết chưa phù hợp không đồng nghĩa người nghệ sĩ có ý xúc phạm văn hóa”, ông nhận định.
Nếu nghệ sĩ chỉ được phép sử dụng văn hóa khi tái hiện nguyên trạng, chúng ta sẽ khó có những tác phẩm mới. Văn hóa vốn không phải một hiện vật bất động. Nó tồn tại vì được cộng đồng sử dụng, truyền lại, biến đổi và tái diễn giải qua nhiều thế hệ. Việc nghệ sĩ tiếp nhận góp ý và điều chỉnh sản phẩm cũng cần được nhìn nhận như một phần của quá trình sáng tạo và đối thoại với công chúng.
Theo tiến sĩ Hoàng Sơn Giang, nếu mọi thử nghiệm với văn hóa truyền thống đều bị đặt trước tâm lý “chỉ cần khác đi là sai”, nghệ sĩ trẻ sẽ chọn cách an toàn nhất là không đụng tới truyền thống nữa. Khi đó, chính văn hóa truyền thống cũng mất đi những cơ hội bước vào đời sống mới. “Vì vậy, điều chúng ta cần tạo ra là một môi trường sáng tạo có trách nhiệm, chứ không phải một môi trường sáng tạo trong nỗi sợ”, ông nhận định.
Thạc sĩ Trần Xuân Tiến cho rằng phản ứng cực đoan có thể gây hiệu ứng co cụm, đẩy nghệ sĩ về vùng an toàn của những xu hướng ngoại nhập. Tuy nhiên, áp lực dư luận cũng có mặt tích cực khi trở thành bộ lọc, buộc giới sáng tạo nâng cao trách nhiệm.
Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng
Theo tiến sĩ Hoàng Sơn Giang, bảo tồn và sáng tạo không nhất thiết mâu thuẫn nếu phân biệt được bảo tồn với “đóng băng” di sản. “Văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể, vốn tồn tại nhờ được con người thực hành, truyền lại và liên tục thích ứng với đời sống”, ông phân tích.
Bài toán đặt ra không phải là lựa chọn giữa bảo tồn và sáng tạo, mà là tìm cách để hai quá trình ấy cùng tồn tại. Theo tiến sĩ Hoàng Sơn Giang, trước hết cần giúp người trẻ hiểu văn hóa trước khi yêu cầu họ bảo tồn văn hóa. Giáo dục và truyền thông cần đưa kiến thức về lịch sử, di sản, các dân tộc và nghệ thuật truyền thống đến gần thế hệ trẻ bằng những cách thức hấp dẫn, dễ tiếp cận hơn.
Bên cạnh đó, cần tạo thêm không gian đối thoại giữa nghệ sĩ trẻ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu và cộng đồng chủ thể. Sự tiếp xúc trực tiếp giúp người sáng tạo không chỉ nhận diện một hoa văn, giai điệu hay biểu tượng, mà còn hiểu câu chuyện, ý nghĩa và thế giới quan phía sau những chất liệu ấy.
Quan trọng hơn, thế hệ trẻ cần được nhìn nhận không chỉ là người tiếp nhận hay gìn giữ di sản, mà còn là chủ thể tiếp nối và sáng tạo văn hóa. “Chúng ta cần cho người trẻ quyền kể lại những câu chuyện truyền thống bằng ngôn ngữ của thời đại mình, miễn là quá trình đó dựa trên hiểu biết, trách nhiệm và sự tôn trọng”, tiến sĩ Hoàng Sơn Giang nhấn mạnh.
Từ góc độ truyền thông, thạc sĩ Trần Xuân Tiến cho rằng di sản cần được nhìn nhận như một dòng chảy thay vì một thực thể bất biến. Nghệ sĩ cần có không gian để thử nghiệm, trong khi công chúng và giới phê bình cũng cần cởi mở hơn với những cách diễn giải mới.
Ranh giới của sáng tạo không nằm ở việc chất liệu truyền thống có được phép thay đổi hay không, mà ở cách nghệ sĩ thay đổi nó. Một chiếc khăn có thể bước lên sân khấu, một hoa văn có thể xuất hiện trên thời trang, một truyền thuyết có thể trở thành lời bài hát. Nhưng phía sau mỗi sự cách tân cần là sự hiểu biết về nguồn gốc, ý nghĩa và cộng đồng đã tạo nên giá trị ấy.
Bởi một nền văn hóa muốn sống lâu không thể chỉ được bảo tồn trong những hình thức quen thuộc. Văn hóa cần được thực hành, đối thoại và tiếp tục được kể lại bằng những ngôn ngữ mới. Bảo tồn vì thế không phải là giữ văn hóa đứng yên, mà là giữ được giá trị cốt lõi để văn hóa có thể tiếp tục sống, được thế hệ trẻ sáng tạo và bước vào tương lai.
Bình luận (0)