Lắt léo chữ nghĩa: Báo cô & bảo kê

4 Thanh Niên
Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên đã ghi nhận mục báo cô nhưng chỉ ghi chú chữ Hán cho mục này là [報辜] chứ không giảng mà lại chuyển chú đến mục ăn báo cô.
 Còn ăn báo cô thì được giảng là “ăn hại, ăn bám người khác mà chẳng giúp ích được gì”.
Dĩ nhiên là cái nghĩa này đã được giảng đúng, nhưng đây chỉ là nghĩa hiện hành, có phần ngược với nghĩa gốc là đằng khác.
Báo côbảo cô bị nói trại đi còn bảo cô [保辜] là hai chữ Hán dùng để chỉ một điều luật thời xưa của Trung Quốc, đại khái là kẻ hành hung gây thương tích cho người bị hại phải nuôi người này trong một thời gian quy định rồi tùy theo mức độ hồi phục của nạn nhân mà xử tội, nếu chưa đến kỳ hạn mà nạn nhân tử vong thì kẻ gây án sẽ bị kết tội sát nhân. Bảo [保] có nghĩa là “giữ gìn; nuôi dưỡng; nhận lấy trách nhiệm” còn [辜] là “tội lỗi” cho nên bảo cô có nghĩa gốc là “tội phải nhận nuôi dưỡng [ai đó]”.
Bảo cô đã bị từ nguyên dân gian thay thanh đổi nghĩa thành báo cô mà hiểu báo như trong báo cơm, báo đời, báo hại. Nhưng với sự lệch thanh lạc nghĩa này, hai tiếng báo cô đã được thói quen ngôn ngữ “bảo kê” để ngang nhiên tồn tại. Với cái nghĩa này, nó đã được tác giả của mục từ hữu quan trong Từ điển tiếng Việt chú thích bằng hai chữ Hán [報辜] nhưng đây là một việc làm sai trái vì [報辜] chẳng những không phải là một từ tổ cố định của tiếng Hán mà cũng không thấy xuất hiện trong lời ăn tiếng nói của dân Trung Quốc.
Bảo [保] trong bảo cô [保辜] có một điệp thức quen thuộc và thông dụng là bầu, như trong: - bầu cử < bảo cử, có nghĩa là đề cử một người mà mình tin ở năng lực vào một chức vụ nhất định và chịu trách nhiệm về sự đề cử đó; - ông/bà bầu < bầu chủ, có nghĩa là người chịu trách nhiệm bảo lãnh cho một người nào đó. Bảo chủ còn có một danh ngữ đồng nghĩa là bảo gia [保家], mà âm Triều Châu (Trung Quốc) là pổ kê. Âm này đã đi vào tiếng Việt miền Nam (miền Tây Nam bộ có rất nhiều người gốc Triều Châu sinh sống) thành bảo kê, vốn có sắc thái trung hòa nhưng nay lại thông dụng với sắc thái xấu nghĩa (pejorative) để chỉ hành động bảo vệ hoặc dung túng cho những hoạt động bất hợp pháp. Tầm-nguyên tự-điển Việt-Nam của Lê-Ngọc-Trụ (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, ảnh) ghi âm Triều Châu của hai chữ [保家] theo chữ quốc ngữ là “bo kê” (tr. 470) nhưng phương ngữ này của tiếng Hán chỉ có P chứ không có B.
Còn chữ báo [報] trong báo cô [報辜] của Từ điển tiếng Việt thì có nghĩa là nói cho biết, kể lại cho biết (bên cạnh những nghĩa khác). Với cái nghĩa này, nó đã được tập quán ngôn ngữ của người Việt biến đổi từ thanh điệu 5 (dấu sắc) sang thanh điệu 4 (dấu hỏi) thành bảo, như trong bảo ban, dạy bảo... Bảo có một điệp thức là biểu, thông dụng trong tiếng Việt miền Nam.

Bình luận 4

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết
Phước

Phước

Xin đừng lấy chữ tq để giải thích cho tiếng Việt thêm rách tiếng Việt. Hãy nhìn tiếng Việt theo phong tục tập quán,thói quen dân gian của người Việt
Phùng Đức

Phùng Đức

Muốn biết nghĩa gốc thì phải nhìn lại từ nguyên.
Xin đừng đem sự ghen ghét của bản thân áp đặt lên những giá trị của ngữ nghĩa. Vì những người có suy nghĩ như bạn nên người Việt ta ngày nay dùng từ sai và dùng lâu trở thành thói quen rồi tiếp tục sai, dẫn đến mất bản sắc dân tộc. (Cũng xin bạn đừng nói bản sắc văn hóa dân tộc toàn là của Tàu, bởi vì quá khứ chúng ta gắn liền với văn hóa TQ nhiều nên ảnh hưởng. Bằng không thì xin bạn nhập quốc tịch châu phi đi nhé. Bên đó ít có ảnh hưởng của TQ lắm).
Thân!
Hoang Minh

Hoang Minh

Bác An Chi chỉ lấy 1 nghĩa của "báo" để biện luận cho chủ kiến của mình mà đã bỏ qua 1 nghĩa như TĐTV đã nêu. Xin tham khảo 2 TĐ sau:
Hán Việt tự điển, Thiều Chửu: nghĩa 1
báo 報 [báo] <8 nét>
① Báo trả, thù đáp lại. Nguyễn Trãi 阮廌 : Quốc ân vị báo lão kham liên 國恩未報老堪憐 (Hải khẩu dạ bạc hữu cảm 海口夜泊有感) Ơn nước chưa đáp đền mà đã già, thật đáng thương. ② Quả báo. ③ Bảo rõ, vì thế nên tờ nhật trình gọi là báo chỉ 報紙, tin dây thép gọi là điện báo 電報, v.v. ④ Kẻ dưới dâm với người trên. ⑤ Vội vã.

Hán Việt Tự Điển, Trần Văn Chánh: nghĩa 4
báo 報 (报) [báo] [Pinyin: bào]
① Báo tin, đưa tin, báo cáo, cho biết: 頻頻報捷 Đưa tin thắng lợi liên tiếp; ② Tin tức: 喜報 Tin mừng; 警報 Báo động; ③ Báo chí: 日報 Nhật báo, báo ra hằng ngày; 畫報 Báo ảnh; 周報 Tuần báo, báo ra hằng tuần; ④ Báo đáp, báo đền, đáp lại, đền lại, trả lại: 恩將仇報 Lấy oán trả ơn, ăn mật trả gừng, ăn cháo đá bát.
Nguyễn Phúc Hội

Nguyễn Phúc Hội

Và buộc phải rành cả Hán lẫn Nôm để Người Việt mình hôm nay giỏi quốc ngữ! Cảm ơn tác thiệt!

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm

'Quả chuông ác mộng' của tác giả Sylvia Plath được dịch giả Trần Quế chi chuyển ngữ

Quả chuông ác mộng: Quẩn quanh trong trầm cảm

Đã 56 năm kể từ ngày nữ thi sĩ - nhà văn người Mỹ Sylvia Plath cho ra đời cuốn tiểu thuyết định mệnh Quả chuông ác mộng, một tác phẩm bán tự truyện được phát hành trước vụ tự sát của chính cô chưa đầy một tháng khiến nó mang một màu sắc dự báo đầy ám ảnh.