VẬT HỘ MỆNH
"Dân làng có thể đổi chỗ ở cả chục lần, nhà cửa cháy rụi, rẫy nương mất trắng…; nhưng đã có chiêng Tha thì bằng mọi giá phải giữ", anh Thao Lợi ở làng Đăk Mế (nay là cán bộ mặt trận thôn Đăk Mế) từng nói với chúng tôi về bộ chiêng ấy.
Thao Lợi kể, người Brâu vốn là một trong những tộc người ít dân nhất VN. Lịch sử di cư, chiến tranh, thiên tai khiến họ nhiều lần rời làng, dời bản. Nhưng giữa những biến động ấy, chiêng Tha vẫn theo họ như một vật hộ mệnh. Có gia đình giấu chiêng trong nhà, có nhà lại mang vào rừng, chôn sâu nơi chỉ chủ nhà biết. Con cháu trong nhà cũng không được hỏi.
"Chỉ người Brâu mới có chiêng Tha. Trước đây nhiều lắm, giờ cả làng Đăk Mế còn rất ít", Thao Lợi nói. Mỗi bộ chiêng là một bí mật. Ai sở hữu cũng giấu kỹ, không khoe, không phô trương. Người ngoài nếu được nhìn thấy, cũng chỉ được đứng xa mà ngắm. Khi chúng tôi ngỏ ý muốn xem chiêng Tha, Thao Lợi không trả lời ngay. Anh lặng lẽ đi ra ngoài, chừng năm phút quay lại mới gật đầu nhưng dặn kỹ: "Chỉ nhìn thôi, không được sờ và không nói làm chiêng Tha phiền lòng".

Nghệ nhân làng Đăk Mế trình diễn chiêng Tha
ẢNH: TRẦN LÂM
Hôm đó, chúng tôi chứng kiến bộ chiêng Tha được cất trong căn buồng kín của bà Nàng Chênh, mẹ vợ Thao Lợi. Không phải treo lộ thiên, không phơi bày như nhiều loại chiêng Tây nguyên khác, chỉ đặt gọn gàng trong một cái bao vải đỏ. Một người đi cùng hỏi: "Mở ra xem được không?". Thao Lợi lắc đầu. Muốn "mời" Tha ra, phải có lễ: gà, rượu ghè, thuốc. Còn ai đó tự ý mở, Tha sẽ "giận". Do quan niệm lâu đời của người Brâu, khi chiêng Tha "giận" nhẹ thì người sẽ bị ốm đau; "giận" nặng thì nổi mụn nhọt khắp người, giật mình, đi tiểu không được.
"MỜI THA ĂN, MỜI THA NÓI…"
Theo người Brâu, chiêng Tha có nguồn gốc từ bên Lào. Người đúc chiêng phải pha trộn rất công phu: đồng thau, chì, có cả đồng đen, thậm chí vàng. Mỗi bộ gồm 2 lá: chiêng trống (Jơliêng) và chiêng mái (Chuar), đường kính khoảng 45 - 50 cm. Khi tấu lên, chiêng Tha phát ra âm thanh trong, cao, thánh thót, có từ 3 - 4 cung bậc, vang xa hàng cây số. Đó là thứ âm thanh không thể nhầm lẫn với bất kỳ loại chiêng nào khác ở Tây nguyên.

Hai chiêng Tha trong một lần được “mời” ra ngoài trong lễ hội
ẢNH: TRẦN LÂM
Trong thế giới của chiêng Tha, không phải bộ chiêng nào cũng có giá trị như nhau. Có bộ chiêng Tha đổi 5 - 10 con trâu, còn chiêng quý hơn thì giá sẽ khác. Thao Lợi kể, ở làng Đăk Mế, bộ chiêng của gia đình bà Nàng Coóc được xem là quý nhất. Ngày xưa, để có được nó, gia đình bà phải đổi 30 con trâu. Thế nhưng giá trị của chiêng Tha không chỉ nằm ở vật chất. Nó nằm ở niềm tin rằng, chiêng là tổ tiên, là nơi trú ngụ của linh hồn người Brâu. Vì vậy, xúc phạm chiêng cũng đồng nghĩa xúc phạm cha mẹ, ông bà.
Nghệ nhân Thao La, người từng sở hữu một bộ chiêng Tha quý, từng làm một nghi lễ lớn nhất đời mình: chia tay bộ chiêng Tha. Đó là khi gia đình lâm cảnh túng quẫn, vợ đau yếu, nợ nần, ông quyết định bán chiêng cho Bảo tàng tỉnh Kon Tum (cũ). Ngày giao chiêng, ông mời già làng, thầy cúng, chuẩn bị rượu cần, gà trống luộc, đầy đủ lễ vật. Thầy cúng bắt đầu nghi thức "mời Tha ăn" bằng cách lấy máu gà bôi vào lòng 2 lá chiêng, khấn xin Tha hiểu cho hoàn cảnh gia đình. Rồi đến "mời Tha uống", rượu được rót vào chiêng, lời khấn lặp lại, tha thiết và nghẹn ngào. Cuối cùng, cả nhà và người làng cùng đánh chiêng lần cuối, như lời tiễn một người thân rời khỏi nhà.
Ngày nay, tộc người Brâu chỉ còn hơn 500 người trên cả nước, chủ yếu sống ở Kon Tum. Số lượng bộ chiêng Tha ngày một ít. Nhiều bộ thất lạc, bị đánh cắp, hoặc buộc phải bán đi vì mưu sinh. Khi lớp trẻ dần rời làng, tiếng chiêng Tha không còn vang lên thường xuyên như trước. Thế nhưng với những người còn ở lại, chiêng Tha vẫn là cội nguồn, là thứ níu giữ họ với bản làng, tổ tiên. Riêng ở Đăk Mế, khi màn đêm buông xuống, gió rừng thổi qua những mái nhà sàn, người Brâu vẫn tin đâu đó trong những chiếc bao vải đỏ cất kín, tổ tiên của họ vẫn đang lắng nghe. (còn tiếp)
Chiêng "vợ" lên tiếng trước
Theo anh Trần Văn Lâm, cán bộ Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi, chiêng Tha có kỹ thuật trình diễn rất đặc biệt. Hai lá chiêng treo úp vào nhau, cách mặt đất từ 15 - 20 cm và phải có 2 người cùng đánh. Họ dùng 4 cái dùi: 2 dùi đực (tơ lông Tha, dài 50 cm) và 2 dùi cái (giơ ra Tha, ngắn hơn dùi đực). Khi đánh thì dùi đực đánh mặt lưng, dùi cái đánh phần bụng, nhưng đặc biệt khi đánh chiêng này thì nhất thiết phải là chiêng "vợ" lên tiếng trước.
Bình luận (0)