Nền kinh tế đang tái cấu trúc?
Con số gần 39.000 doanh nghiệp (DN) rút lui khỏi thị trường tại TP.HCM trong 7 tháng (bao gồm tạm ngưng hoạt động, hoàn tất giải thể), cao hơn số thành lập mới (hơn 34.000 DN), đã khiến các cấp lãnh đạo thành phố yêu cầu làm rõ nguyên nhân. Bởi lượng DN rời thị trường tăng nhưng thu ngân sách của TP.HCM trong 7 tháng qua cũng tăng mạnh hơn 20%, đạt 575.463 tỉ đồng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại đầu tàu kinh tế cả nước đạt hơn 9,8 tỉ USD, tăng hơn 44%.

Theo các chuyên gia, số doanh nghiệp rời thị trường và thành lập mới phản ánh sự tái cấu trúc sâu sắc trong nền kinh tế
Ảnh: Linh Linh
Thực tế, nếu chỉ nhìn số DN rời thị trường thì đây là tín hiệu đáng lo nhưng đặt trong bức tranh chung lại khác. Theo Cục Thống kê, trong 7 tháng tính từ đầu năm, cả nước có khoảng 187.200 DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5% so với cùng kỳ; trong khi 155.300 DN rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6%. Bình quân mỗi tháng có khoảng 26.700 DN gia nhập và 22.200 DN rút lui.
Như vậy, số DN gia nhập vẫn cao hơn số rút lui khoảng 31.900 DN. Đây chính là điểm quan trọng để cho thấy không phải nền kinh tế đang "co lại", mà đang xuất hiện 2 dòng chảy đồng thời, tức là số DN mới gia nhập và DN cũ rút lui.
Theo các chuyên gia kinh tế, không có mâu thuẫn tất yếu giữa tăng trưởng GDP và số DN rút lui cao. GDP phản ánh tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế, trong khi tình trạng của từng DN lại phụ thuộc vào ngành nghề, quy mô, năng suất, khả năng tiếp cận vốn và sức cạnh tranh. Một số khu vực có quy mô lớn, năng suất cao, vốn đầu tư mạnh, xuất khẩu tốt hoặc thu hút FDI lớn có thể tăng trưởng nhanh và đóng góp đáng kể vào GDP, ngân sách. Trong khi đó, một bộ phận DN nhỏ vẫn phải thu hẹp hoặc rời thị trường.
Một dấu hiệu đáng lưu ý là các DN thành lập mới có số vốn bình quân đạt 12,1 tỉ đồng, tăng gần 40% so với cùng kỳ. Riêng tháng 7, vốn đăng ký bình quân đạt 11,7 tỉ đồng, tăng 64,4% dù số DN thành lập mới giảm gần 14%. Đây có thể là dấu hiệu dòng đầu tư đang dịch chuyển về những DN có quy mô và năng lực vốn lớn hơn. Trong khi đó, một bộ phận DN nhỏ, siêu nhỏ, thâm dụng lao động có thể chịu sức ép lớn hơn từ chi phí đầu vào, nhân công, mặt bằng, vốn và các yêu cầu tuân thủ. Khi khả năng tích lũy thấp, chỉ cần doanh thu hoặc biên lợi nhuận giảm trong một thời gian cũng có thể khiến DN phải tạm ngừng hoặc rút lui.
Các chuyên gia kinh tế nhìn nhận nếu số DN có vốn lớn, công nghệ cao, năng suất cao đang gia nhập và DN nhỏ, năng suất thấp đang rút lui thì nền kinh tế đang tái cơ cấu theo hướng tích cực. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ 3 trạng thái "tạm ngừng", "ngừng hoạt động chờ giải thể" và "hoàn tất giải thể" là khác nhau hoàn toàn. Không thể đồng nhất toàn bộ số DN rút lui với DN phá sản hay DN mất khả năng kinh doanh.
GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), phân tích: "Nếu DN có vốn lớn, công nghệ cao, năng suất cao đang gia nhập, trong khi DN nhỏ, năng suất thấp rút lui thì nền kinh tế đang tái cơ cấu theo hướng tích cực. Nhưng nếu DN rút lui là những DN đang hoạt động thực chất, tạo nhiều việc làm và có khả năng đóng góp thuế, trong khi DN mới tuy vốn lớn nhưng tạo ít việc làm, thì phải đặt câu hỏi về chất lượng tăng trưởng và sức khỏe của khu vực kinh tế tư nhân. Thực tế cho thấy số liệu rút lui hiện nay phản ánh một quá trình sàng lọc mạnh, nhưng chưa đủ để kết luận toàn bộ số DN này đều mất khả năng kinh doanh".
Nuôi dưỡng và hình thành lớp DN có quy mô lớn
Chuyên gia kinh tế, PGS-TS Nguyễn Thường Lạng gợi ý nên phân tích theo hướng số DN rút lui khỏi thị trường thuộc nhóm nào và nền kinh tế thực sự đang mất đi những năng lực sản xuất nào. Nếu phần lớn là DN siêu nhỏ, vốn thấp, hoạt động không hiệu quả hoặc DN đã ngưng hoạt động nhiều năm rồi mới làm thủ tục giải thể, đây có thể được xem là quá trình thanh lọc bình thường khi môi trường kinh doanh ngày càng yêu cầu minh bạch và hiệu quả hơn. Nhưng nếu số DN giải thể tập trung vào khu vực đang hoạt động thì đó lại là dấu hiệu đáng lo về sức khỏe khu vực kinh tế tư nhân. Dữ liệu cho thấy số DN mới gia nhập thị trường đang có xu hướng ít sử dụng lao động hơn nhưng vốn đăng ký lớn hơn, trong khi một bộ phận DN truyền thống, thâm dụng lao động vẫn chịu sức ép thu hẹp.
"Bức tranh 7 tháng không đơn thuần là con số DN tăng hay giảm mà phản ánh một quá trình tái cấu trúc thì đúng hơn. Đó là số DN mới tiếp tục gia nhập với quy mô vốn lớn hơn, trong khi số DN nhỏ, thâm dụng lao động… có xu hướng rút lui khỏi thị trường. Nếu nguồn lực từ những DN rời thị trường được chuyển sang các DN mới có năng suất và sức cạnh tranh cao hơn, đây có thể là quá trình thanh lọc tích cực. Ngược lại, nếu DN rút lui chủ yếu là những cơ sở đang hoạt động thực chất, tạo việc làm nhưng không chịu nổi chi phí kinh doanh, thì đây lại là tín hiệu cần lưu ý", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh và lưu ý thêm áp lực rút lui cũng không phân bổ đồng đều giữa các ngành. Ngay cả những lĩnh vực vẫn có DN gia nhập mạnh cũng đang diễn ra quá trình đào thải đáng kể.
Từ đó, các chuyên gia cho rằng bên cạnh việc hỗ trợ DN nhỏ vượt qua khó khăn trước mắt, chính sách cần hướng tới mục tiêu dài hạn hơn là nuôi dưỡng và hình thành lớp DN có quy mô lớn, năng suất cao và có sức cạnh tranh quốc tế. Nếu DN chỉ duy trì ở quy mô nhỏ, manh mún trong thời gian dài thì rất khó tích lũy vốn, đầu tư công nghệ, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng nên dễ bị đào thải trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi cao.
"Cần tạo môi trường để những DN có năng lực có thể tích lũy vốn, mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường, thay vì chỉ hỗ trợ theo hướng giải cứu DN gặp khó khăn. Chính sách tín dụng, đất đai, thuế, khoa học công nghệ và đào tạo nhân lực cần được thiết kế theo hướng khuyến khích DN đầu tư dài hạn, nâng năng suất và mở rộng quy mô. Đặc biệt, cần hình thành cơ chế để DN lớn trong nước dẫn dắt và kéo theo hệ sinh thái DN nhỏ và vừa. Khi DN đầu tàu phát triển, các DN cung ứng nguyên vật liệu, logistics, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ và công nghệ cũng có cơ hội tham gia chuỗi giá trị. Khi đó, quá trình sàng lọc không chỉ tạo ra sự thay thế về số lượng mà còn giúp nâng chất lượng của toàn bộ khu vực DN", GS-TS Võ Xuân Vinh gợi ý.
Không nên nhìn việc DN rút lui chỉ dưới góc độ mất đi bao nhiêu DN, mà phải nhìn xem sau quá trình đó nền kinh tế hình thành được bao nhiêu DN mạnh hơn, có năng suất cao hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn. Mục tiêu cuối cùng phải là chuyển từ nền kinh tế có nhiều DN sang nền kinh tế có nhiều DN mạnh và có khả năng lớn lên. Muốn vậy, quan trọng là giảm chi phí gia nhập, chi phí duy trì và chi phí mở rộng hoạt động của DN, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và ổn định về chính sách.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng
Bình luận (0)