Tôi gặp ông để xin được đi chiến trường. Lúc đấy Chính Hữu làm lãnh đạo Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trịá, một người tôi nghĩ là có quyền chấp nhận nguyện vọng của tôi.
Ông tiếp tôi tại căn phòng tập thể nhỏ hẹp, vừa nói chuyện với khách vừa lo chăn dắt đứa con nhỏ. Thỉnh thoảng ông lại trừng mắt với thằng bé. Tôi là người lạ, cũng có phần ái ngại khi "trình bày nguyện vọng" trong hoàn cảnh như thế. Nhưng lạ thay, khi nói chuyện với tôi, lúc ấy chỉ là đứa nhỏ so với ông, tôi nhận thấy giọng nói của Chính Hữu thật hiền, vừa chân thành vừa khiêm tốn, dù ông cũng chẳng biết tôi là ai. Nhưng nguyện vọng của tôi thì ông biết. Và đồng cảm. Bởi ông cũng là người lính:
![]() Nhà thơ Chính Hữu, ảnh chụp năm 1998 - Ảnh: Nguyễn Đình Toán |
"Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa
Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa" (Ngày về)
Lần đầu đọc bài thơ ấy, tôi cứ ngỡ Chính Hữu là người Hà Nội. Vậy mà quê gốc ông lại ở Can Lộc (Hà Tĩnh), và ông sinh ở Vinh (Nghệ An). Sao thơ ông lại có giọng thuần chất của một chàng trai Hà thành? Thì ra, Chính Hữu ra học Hà Nội, và từng đỗ tú tài ban Triết ở thủ đô. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô lừng danh, và bài thơ Ngày về ra đời khi chàng trai Chính Hữu sau 60 ngày đêm quyết chiến "trên từng con phố" đã theo trung đoàn "rút qua gầm cầu Long Biên" về bên kia sông Hồng trong một đêm "cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng". Thơ Chính Hữu lúc bấy giờ là kết tinh những gì đẹp nhất, hào hoa nhất mà cũng lãng mạn nhất của cả một thế hệ những người lính thủ đô có học và có thừa dũng khí "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Thơ ông khi đó thăng hoa cả hồn phách của những người lính tự nguyện và tự ý thức về sự tự do tuyệt đối của tâm hồn mình trong cuộc quyết chiến vì độc lập tự do của cả dân tộc. Đó là thời điểm không lặp lại trong suốt một hành trình. Sau này, lắng lại qua bao gian khổ, Chính Hữu lại có bài thơ Đồng chí nổi tiếng mà nhạc sĩ Minh Quốc - một đồng đội của ông tận chiến trường cực Nam đã phổ nhạc - một ca khúc ăn ý hoàn toàn với chất giọng thơ Chính Hữu:
"Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay"(Đồng chí)
Đó lại là bài thơ tiêu biểu cho thơ kháng chiến chống Pháp, thơ về người lính thời chống Pháp. Khi "đôi giày vạn dặm" đã "rách tả tơi" rồi, thì cả bàn chân trần, bàn tay trần, trái tim trần của người lính đã tự nhiên tìm đến nhau, giữ lửa cho nhau, và giữ cả cái hình ảnh "đầu súng trăng treo" - quyết liệt không chịu mất chút lãng mạn - trong nhau.
Kịp đến những tháng năm chống Mỹ, Chính Hữu lại lặng lẽ xuất hiện trên thi đàn với bài thơ Ngọn đèn đứng gác. Và đó cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu ở những năm đầu chống Mỹ, bài thơ còn được ngân xa hơn với âm nhạc của Hoàng Hiệp. Chính Hữu như một người đạc điền trong thơ ca. Ông lặng lẽ cắm mốc bằng những bài thơ tiết chế đến tối giản của mình. Sau này, thỉnh thoảng gặp ông ở Hội Nhà văn, tôi càng nhận thấy sự tối giản, những khoảng lặng, cách tiết chế ấy của thơ ông nằm ngay trong tính cách và cách sống của ông.
Thơ là người, và không thể khác. Chỉ để lại mấy chục bài thơ, nhưng thơ Chính Hữu sống. Nó sống ngay trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ, dù những thế hệ sau không còn biết đến chiến tranh, và có thể chỉ nhìn thấy hình ảnh người lính trên phim ảnh, và thỉnh thoảng ngoài đời.
Thanh Thảo

Bình luận (0)