Tàu hỏa, sà lan và bánh xích
Trước khi xe tăng T-54 chính thức lăn bánh vào chiến trường miền Nam (đầu tháng 2.1971), bài toán "tải trọng xe" được các cán bộ kỹ thuật đưa ra bàn bạc cả năm trời.
Mặc dù trước đó, xe tăng PT-76 đã hành quân vào Quảng Trị, nhưng PT-76 chỉ nặng bằng 1/3 so với T-54 và là loại bơi nước, nên những bài học kinh nghiệm dọc đường hành quân, chỉ dừng lại ở mức "nâng đường, bạt dốc"…

Trung tướng Song Hào (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) kiểm tra bộ đội Tăng thiết giáp, tháng 12.1969
ẢNH: BCTTG
Đó là chưa kể đến việc: trước khi hành quân, xe được hàn gắn thêm nhiều vũ khí trang bị, tận dụng chở các loại dầu mỡ, phụ tùng, gỗ cứu kéo cho đến nồi niêu xoong chảo, súng đạn bộ binh và quân tư trang cá nhân của bộ đội.

Bộ đội Tăng thiết giáp trên thao trường huấn luyện, năm 2005
ẢNH: BCTTG
"Xe tăng có tải trọng lớn, động cơ và nhiều chi tiết kỹ thuật có tuổi thọ thấp, nên ở các quốc gia trên thế giới, khi xe tăng cơ động đường dài, người ta sử dụng các phương tiện (xe chở tăng chuyên dụng, tàu hỏa, tàu thủy) chuyên chở đến gần khu vực tác chiến, sau đó mới chạy xích", đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt (nguyên Trưởng ban Khoa học công nghệ, Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp) cho biết vậy.
Đại tá Nguyệt kể thêm: "Ở Việt Nam, trong kháng chiến cứu nước, việc đưa xe tăng vào chiến trường, kể cả nơi xa nhất khoảng 2.000 km, chủ yếu là tự đi bằng xích".

Luyện tập chống lầy cho xe tăng T-54 tại thao trường Bình Xuyên, Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ), trước khi vào chiến trường
ẢNH: BCTTG
Các cựu binh xe tăng kể lại hành trình hành quân từ miền Bắc vào miền Nam, trong đó tối ưu là: chở xe tăng bằng tàu hỏa vào đến Vinh (Nghệ An). Sau đó tàu thủy chở từ Vinh vào Đồng Hới hoặc Long Đại, Quảng Bình (nay là Quảng Trị).
Từ đây, các xe tăng bắt đầu hành quân theo đường Trường Sơn bằng xích. Quãng đường vài trăm km, thậm chí cả gần 2.000 km với thời gian vài tháng.

Vận chuyển xe tăng T-54 bằng xe chở tăng, năm 2006
ẢNH: BCTTG
Việc hành quân bằng xích với xe tăng T-54 là rất khó khăn, bởi trọng lượng khoảng 34 - 36 tấn. Đã xảy ra trường hợp xe tăng T-54 của Đoàn 512, khi di chuyển bằng tàu hải quân từ cảng Bến Thủy (Vinh, Nghệ An) vào Long Đại, Quảng Bình (nay là Quảng Trị) cuối tháng 12.1971, khi qua vùng biển Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đã bị sóng lớn đánh chìm tàu, rơi xe tăng xuống biển và 1 chiến sĩ hy sinh.
Tháng 5.1972, đại đội xe tăng 4 vừa hành quân đến A Lưới đã bị B52 đánh trúng đội hình, 4 chiến sĩ hy sinh. Trước đó, đại đội xe tăng 8 hành quân trên đường 18 (bên đất Lào) bị máy bay Mỹ phát hiện đánh phá, toàn bộ xe tăng của đơn vị bị cháy…

Xe tăng T-54 hành quân vào chiến trường bằng xích
ẢNH: BCTTG
Vượt qua mọi khó khăn, bộ đội Tăng thiết giáp đã đưa được hàng trăm xe tăng thiết giáp, vượt hàng nghìn km vào các chiến trường miền Nam, với tỷ lệ người và xe đến đích, trung bình đạt 85 - 90%.
Nhiều đơn vị vừa vào đến nơi đã tham gia chiến đấu ngay. Đơn cử như Tiểu đoàn xe tăng 171 (sau đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 20), sau khi vượt gần 2.000 km vào đến căn cứ Miền, ngày 2.4.1972 - chỉ 5 ngày sau đã tham gia đánh cứ điểm Lộc Ninh (chiến dịch Nguyễn Huệ) và giành thắng lợi.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm, kiểm tra bộ đội Tăng thiết giáp, năm 2004
ẢNH: BCTTG
Trận đánh đầu tiên của xe tăng T-54
Năm 1971, chiến dịch Đường 9 Nam Lào diễn ra, xe tăng T-54 lần đầu tiên được đưa vào chiến trường với 33 chiếc của Tiểu đoàn 297, Trung đoàn 203. Đầu tháng 2.1971, Tiểu đoàn 297 hành quân theo đường 16 vào phía bắc Đường 9.

Xe tăng T-54 và T-59 chuẩn bị hành quân từ Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc (nay là Phú Thọ) vào chiến trường miền Nam
ẢNH: BCTTG
Trận đánh đầu tiên của xe tăng T-54 trên chiến trường là ở điểm cao 543 (Quảng Trị). Tài liệu ghi lại: sáng 27.2.1971, toàn bộ 7 xe tăng T-54 (Đại đội 7 của Tiểu đoàn 297) và 3 xe tăng bơi nước PT-76 (Đại đội 9, Tiểu đoàn 198) phối thuộc cho Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320) tiến công Thiết đoàn 17 của địch ở điểm cao 543. Do trời mưa, đường trơn, dốc cao… xe tăng lên được ít, không phát huy được hiệu quả hỏa lực.

Xe tăng T-54 của Quân giải phóng tham gia chiến dịch Trị Thiên năm 1972 và bị đối phương thu giữ
ẢNH: TƯ LIỆU
"Trong chiến đấu, 9/10 xe bị máy bay và súng chống tăng của địch phá hủy. Đại đội 7 không tổ chức quan sát cứu chữa (đại đội phó kỹ thuật hy sinh, kỹ thuật viên đi trinh sát chưa về). Sau chiến đấu, chưa kiểm tra kỹ xe hỏng. 1 chiếc tăng T-54 bị kẹt lá chắn bùn, tưởng là xe bị hỏng nên để lại trận địa. Hôm sau, chính trị viên phó đại đội ra kiểm tra và sửa chữa trong 1 thời gian ngắn là lái về được", tài liệu của Binh chủng Tăng thiết giáp ghi lại rành mạch vậy.
Tài liệu còn liệt kê: "Trong trận đánh địch rút chạy khỏi Bản Đông (18 - 22.3.1971), có 16 xe T-54 (của Đại đội 2 và 7 thuộc Tiểu đoàn 297) nhận nhiệm vụ phối thuộc cho bộ binh đuổi đánh địch đến Huội San (nay thuộc huyện Sepon, Savanakhet, Lào). Nhưng trong chiến đấu, có 12/15 xe bị hỏng, chỉ còn 3 xe đuổi địch đến Huội San. Đặc biệt, 3 xe T-54 bị sa dệ nhẹ, nhưng không sơ tán và ngụy trang kịp thời, để máy bay địch đánh hỏng. Khi xe bị hỏng, không để người trông xe. Thợ đến sửa chữa không thể vào trong xe".

Bộ đội Tăng thiết giáp huấn luyện cứu kéo xe tăng T-54, năm 2014
ẢNH: BCTTG
Sau trận đầu ra quân không suôn sẻ, Tiểu đoàn xe tăng 297 phải rút ra Quảng Bình (nay là Quảng Trị) tập kết và đến tháng 9.1971 mới sửa chữa được 15 xe T-54, do thiếu vật tư. (còn tiếp)
Không để bộ đội bi quan, chán nản
"Trận ngày 27.2.1971 ở cao điểm 543 là trận đầu tiên xe tăng T-54 ta xung trận. Tôi và tất cả anh em ở sở chỉ huy xe tăng rất phấn khởi và cũng rất căng thẳng chờ đợi. Tuy nhiên, do chuẩn bị gấp, đường sá không có, lại đánh ban ngày, ta không có hỏa lực phòng không… nên xe tăng ta vừa bị sa lầy, vừa bị máy bay địch chế áp. Cuối cùng chỉ có xe tăng lội nước và 1 xe tăng T-54 lên chiếm lĩnh được đồi cao. Tuy chỉ 1 xe T-54 lên được, nhưng với uy lực pháo 100 mm đã làm hỗn loạn đội hình xe tăng địch, tạo điều kiện cho bộ binh làm chủ trận địa.

Bộ đội tăng thiết giáp huấn luyện trên thao trường, năm 2014
ẢNH: BCTTG
Khi nhận được tin "Đại đội 7 có 10 xe tăng T-54 thì 9 bị hỏng và cháy". Tôi rất bàng hoàng. Tôi suy nghĩ mãi về truyền thống "đã ra quân là đánh thắng" và tự hỏi: Tiểu đoàn 297 có đánh thắng không? Bộ đội có bi quan, chán nản không?
Tôi sang Cục Chính trị thuộc Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ, trao đổi với anh Phạm Hồng Cư, phái viên Tổng cục Chính trị tại chiến trường B5 (ông Phạm Hồng Cư tên thật là Lê Đỗ Nguyên, sau này là trung tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, mất năm 2021 tại Hà Nội) về trận đánh của Đại đội 7. Tôi có hơi buồn về thiệt hại quá lớn về xe tăng trong 1 trận đánh và bàn việc củng cố ý chí cho bộ đội. Tuy nhiên, anh Cư đã làm tốt tư tưởng cho tôi và chúng tôi thống nhất Bộ Chỉ huy chiến dịch tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho Đại đội 7".
Đại tá Đào Văn Xuân, nguyên Phó chính ủy Binh chủng Tăng thiết giáp










Bình luận (0)