Sơn Nam đi kháng chiến như một lẽ tự nhiên, hệt như bao lớp thanh niên cùng thời. Ông lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí: Phó bí thư Tỉnh đoàn Thanh niên Cứu quốc, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Rạch Giá, sau chuyển sang công tác tại Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh và Phòng Chính trị Quân khu 9. Đến năm 1950, ông về Phòng Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam bộ, cùng cơ quan với nhà báo Lưu Quý Kỳ, người sau này là Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. Thời gian này, ông cộng tác thường xuyên với báo Tiếng súng kháng địch, tạp chí văn nghệ Lá Lúa… Ông viết đủ thể loại phục vụ kháng chiến, và thậm chí... làm thơ.
Bên cạnh những bạn văn như Dương Tử Giang, Truy Phong, Kiên Giang…, một nhân vật để lại trong ông nhiều tình cảm sâu đậm là nhà thơ Nguyễn Bính. Sơn Nam thuộc lòng nhiều bài thơ của tác giả Lỡ bước sang ngang sáng tác trong thời kỳ đó, những vần thơ mà hầu như các tuyển tập Nguyễn Bính sau này đã bỏ sót. Trong đó có bài Những người của ngày mai, từng được Sơn Nam đọc cho chúng tôi ghi lại: Quê các anh ở miền Trung đá núi/Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co/Đêm trong xanh cao vút tiếng ai hò/Trên bến vắng, một dòng sông nổi bạc/Quê các anh ở miền Nam bát ngát/Trái dừa xiêm, nước ngọt buổi trưa nồng/Đôi ba cô gái bán hàng bông/Chèo yểu điệu một xuồng đầy vú sữa/Trên đường kinh đi sâu vào biển lúa/Quê các anh ở miền Bắc xa xôi/Bước chân đi, không biết mấy năm rồi/Xa cha mẹ, anh em, xa tất cả/Nương dâu xanh, chiếc cầu ao, mái rạ/Cô gái làng gội tóc nước hương nhu…
Những vần thơ này đã bồi đắp trong Sơn Nam tình cảm thiêng liêng của một Việt Nam thống nhất. Sau này sống trong vùng tạm chiếm, ý thức ấy trỗi dậy trong ông như một định hướng sáng tác. Đó là viết như thế nào để lọt qua được lưới kiểm duyệt khắc nghiệt đương thời, nhưng vẫn nói được tình cảm Bắc - Nam không thế lực nào có thể chia cắt.

Nhà thơ Nguyễn Bính lúc trẻ
ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Báo Tiếng súng kháng địch mà nhà văn Sơn Nam từng cộng tác thời chống Pháp
ẢNH: TƯ LIỆU
Ít ai biết, Sơn Nam cùng nhạc sĩ Đắc Nhẫn từng tham gia chiến dịch Long - Châu - Hà nổi tiếng. Cùng bộ đội, họ đã hành quân trên địa bàn rộng lớn của các vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên… Đến tận lúc ở tuổi "cổ lai hy", tác giả Hương rừng Cà Mau vẫn nhớ như in và tả lại trong hồi ký do NXB Trẻ ấn hành năm 2015: "Phần lớn các cuộc hành quân đều dùng đường thủy, mỗi xuồng năm bảy người, thay phiên nhau chèo, thường là một người chèo lái nhưng khi cần tăng tốc thì phía trước mũi thêm một người chèo nữa. Lắm khi tôi thấy có chở súng cối (mortier, bộ đội quen gọi "mọt-chê") hoặc trọng liên (12,7 mm). Để đi tắt cho nhanh, mấy loại vũ khí này được đưa lên bờ, vác trên vai từng bộ phận rời. Các anh bộ đội vai u thịt bắp hì hục khiêng lên vai rồi vượt qua những cây cầu khỉ mỏng manh, cầu bằng tre, có rượng (để vịn tay vào) nhưng các anh đi thoăn thoắt, không vịn, trong khi gần như toàn thể cây cầu đung đưa, nhịp nhàng…".
Nhờ chuyến đi này và "với sức còn trẻ, tôi đòi đi thực tế, đi đâu cũng được nhất là vùng tạm chiếm, vùng "xôi đậu" gần bót, nơi địch o bế về sinh kế", Sơn Nam tích lũy được nguồn chất liệu phong phú cho sáng tác. Một trong những chuyến đi ấn tượng với ông là được đến cù lao Dung. Ông kể: "Cù lao Dung, giữa sông Hậu, nơi mà tôi ao ước đến cho biết khi nhìn sơ trên bản đồ. Một cù lao to, từ thời Gia Long đã chia thành 2 xã, đọc sử thấy ghi là Hổ châu, theo nghĩa cù lao có cọp ở. Người Khơ-Me gọi là Kok Tung, theo nghĩa cù lao này là sào huyệt của loại chim thằng bè. Phía tay mặt mà chúng tôi men theo bờ là chợ Đại Ngãi, gọi nôm na là Vàm Tấn. Buổi xưa vài cụ già giải thích: Tấn là tra tấn. Quan quân thời nhà Nguyễn lập đồn ở đây để bắt và tra khảo bọn cướp biển từ Biển Đông, phía Mã Lai sang cướp phá. Theo tôi hiểu thì Tấn có nghĩa là một đồn canh phòng ở sông biển, loại đồn lớn" (sách Hồi ký Sơn Nam).
Từ những chuyến đi thực tế ấy, ông viết truyện ngắn Bên rừng cù lao Dung - Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ năm 1951 - 1952. Rất tiếc truyện ngắn này đến nay vẫn chưa tìm được. Ký sự Tây đầu đỏ của ông cũng được Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ năm 1953 - 1954.
Nhắc lại những chi tiết này để thấy, ngay buổi đầu cầm bút, Sơn Nam đã thể hiện được sự chững chạc của một nhà văn chuyên nghiệp, đồng thời còn báo hiệu một văn tài sau này. (còn tiếp)
Bình luận (0)