AI nguy cơ làm thoái hóa tư duy, kỹ năng của người học, cách gì phòng ngừa?

Ngọc Long
Ngọc Long
Ngày càng nhiều bằng chứng khoa học cho thấy lạm dụng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể khiến năng lực giảm sút, đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới dạy học lẫn thi cử, theo chuyên gia.
AI nguy cơ làm thoái hóa tư duy, kỹ năng của người học, cách gì phòng ngừa? - Ảnh 1.

Tiến sĩ Abdullah bin Mohd Nawi chia sẻ tại hội thảo

ẢNH: KHOA NGỮ VĂN ANH

Khoa Ngữ văn Anh Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) phối hợp các đối tác quốc tế tổ chức hội thảo quốc tế về giảng dạy tiếng Anh (ICELT), với chủ đề "Hướng tới giảng dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong kỷ nguyên AI" vào ngày 16 và 17.10

Cái giá phải trả khi dùng AI

Bên lề sự kiện, tiến sĩ Abdullah bin Mohd Nawi, ĐH Công nghệ Malaysia (UTM), cho biết chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích mà AI mang lại cho giáo viên và học sinh. Song, thầy và trò cần lưu ý đây không là công cụ "miễn phí", mà thực chất tồn tại những "chi phí ẩn" và loại phí này có nguy cơ "khấu trừ" thẳng vào năng lực của người học.

"Trước đây, người ta chỉ bảo sẽ phải ‘trả giá’ khi dùng AI, nhưng chưa xác minh cụ thể cái giá đó sẽ ra sao. Song chỉ riêng trong năm ngoái và năm nay, một số nghiên cứu đã thực sự cung cấp được những bằng chứng thực tế chỉ ra AI làm hại đến tư duy ra sao", tiến sĩ Nawi thông tin với Thanh Niên.

Nổi bật là nghiên cứu sử dụng phương pháp đo điện não đồ đăng năm 2025 trên arXiv của nhóm chuyên gia từ Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và một số ĐH Mỹ khác. Tại đây người tham gia được chia thành 3 nhóm để viết bài luận theo yêu cầu. Trong đó nhóm 1 tự "động não", nhóm 2 dùng công cụ tìm kiếm còn nhóm 3 dùng mô hình ngôn ngữ lớn (LLM, khái niệm thường dùng chỉ các công cụ như ChatGPT).

Khi được hỏi có thể trích dẫn lại dòng nào hay có nhớ những gì đã làm không, nhóm 1 nhớ tới gần 89%, nhóm 2 là 83% trong khi nhóm 3 hầu như chẳng nhớ gì. Hiện tượng của nhóm 3 được gọi là "cognitive offloading" (ủy thác nhận thức), khi một số chức năng của bộ não bị bỏ qua dù người học vẫn trực tiếp làm bài.

"Khi xem kết quả quét não, người ta thấy ảnh chụp của nhóm dùng AI có rất ít kết nối thần kinh. Nhóm dùng công cụ tìm kiếm thì có một số kết nối còn nhóm hoàn toàn động não thì bùng nổ khắp nơi. Đây là bằng chứng thuyết phục về ảnh hưởng của việc sử dụng hoặc quá phụ thuộc vào AI", tiến sĩ Nawi nhận định.

"Não bộ chỉ có thể phát triển khi chịu áp lực tư duy", ông nhấn mạnh.

Nghiên cứu khác được ông Nawi dẫn lại là một khảo sát về việc sử dụng AI tại Trung Quốc với khoảng 26.000 đáp viên. Kết quả chỉ ra, ngày càng nhiều người học hoàn thành bài tập và điểm cũng cao hơn qua từng học kỳ. Nhưng khi vào kỳ thi đóng, thay vì làm bài tốt hơn, kết quả thi của các bạn lại sụt giảm tới 20%.

Không chỉ ảnh hưởng tới tư duy và kết quả học tập, AI còn làm mai một kỹ năng của người dùng. Đó là kết quả nghiên cứu xuất bản năm 2025 trên chuyên san Y học chuyên khoa tiêu hóa và gan mật The Lancet, cho thấy những bác sĩ quen dựa dẫm vào AI để phát hiện polyp (khối mô phát triển bất thường) đã bị "hụt hơi" khi phải quay về tự mình làm việc này.

"Những công trình trên thể hiện một xu hướng thoái trào. Càng phụ thuộc vào AI, bạn càng đánh mất các chức năng của não bộ và điều này cực kỳ đáng quan ngại trong giáo dục. Bởi, làn sóng đẩy mạnh ứng dụng AI đang diễn ra ở mọi nơi, kể cả Việt Nam hay Malaysia. Như tại các ĐH nước tôi, tất cả chương trình đào tạo hiện nay bắt buộc phải tích hợp yếu tố AI", tiến sĩ Nawi nhận định.

Điều cần làm, theo ông, là phải có những "màng lọc an toàn", thay vì "chạy đua" vô tội vạ. Song song đó, phương án cực đoan như loại bỏ hẳn AI khỏi giáo dục là điều không thể, do đây là xu thế của tương lai và những ai biết tận dụng công cụ này "đang bứt phá rất nhanh", ông nhận định.

AI nguy cơ làm thoái hóa tư duy, kỹ năng của người học, cách gì phòng ngừa? - Ảnh 2.

Quang cảnh hội thảo ngày 17.10

ẢNH: NGỌC LONG

Thiết kế bài thi AI không thể làm hộ

Trước sự phổ biến của AI, một biện pháp mà tiến sĩ Abdullah bin Mohd Nawi đang áp dụng là sau khi giao bài tập, ông sẽ yêu cầu học trò mình tư duy về nó trong 10 phút, như viết ra toàn bộ ý tưởng hay các thắc mắc. Sau đó, các bạn mới được phép sử dụng các công cụ hỗ trợ như AI.

Đến lúc thi cử, ông cho biết một số môn học đang quay trở lại "thời đồ đá" khi yêu cầu các bạn làm bài hoàn toàn trên giấy. Số khác thì áp dụng những hình thức kiểm tra thay thế linh hoạt hơn thay vì chỉ dựa vào bài tập mà các bạn có thể làm ở nhà. "Tôi chưa thể khẳng định thay đổi này có mang lại hiệu quả hay không. Nhưng dựa trên những bằng chứng khoa học hiện có, đây là giải pháp tạm chấp nhận được", ông nói.

Cũng công tác tại UTM, PGS-TS Kang Myoung Sook thông tin ở bộ môn biên-phiên dịch, thay vì đưa người học một đoạn văn bản ngôn ngữ A và yêu cầu dịch sang ngôn ngữ B như trước đây, bà sẽ đưa văn bản gốc kèm bản dịch A, B, C, sau đó yêu cầu sinh viên chọn bản dịch tốt nhất và giải thích lý do.

"Nhờ đó, tôi có thể kiểm tra xem người học có thực sự nắm được những điểm mấu chốt về ngôn ngữ, văn hóa hay các yếu tố khác hay không, và xem cách các bạn phân tích bản dịch đó thế nào. Đây là dạng bài tập AI không thể làm hộ", bà nói với Thanh Niên.

AI nguy cơ làm thoái hóa tư duy, kỹ năng của người học, cách gì phòng ngừa? - Ảnh 3.

PGS-TS Kang Myoung Sook (thứ 2 từ phải qua) chụp lưu niệm cùng ban tổ chức hội thảo

ẢNH: NGỌC LONG

Góp thêm góc nhìn, PGS-TS Shahid Abrar-ul-Hassan ở ĐH Canada West (UCW) phát biểu trong bài tham luận rằng thầy cô cần cân nhắc tới tính phân hóa khi tiến hành khảo thí. Như trước đây để thuận tiện và phù hợp với thực tế, thầy cô hay chọn "cào bằng", tức giao cùng một đề và cùng một khung thời gian làm bài cho tất cả. Nhưng khi AI ngày càng phát triển, phương pháp này bộc lộ những hạn chế nhất định.

"Chưa kể, phương pháp này thoạt nghe thì có vẻ công bằng, nhưng vô hình trung nó đã bỏ qua các bạn bị hội chứng lo âu khi thi cử hoặc các dạng khuyết tật nhận thức khác mà chính các bạn chưa nhận ra", ông nói.

Đó là lý do vị PGS kêu gọi xem xét kỹ mục đích của việc đánh giá, như đánh giá thành tích (achievement), đánh giá phục vụ dạy học (instructional), đánh giá chẩn đoán (diagnostic)... Ông nhấn mạnh không nhất thiết ôm đồm tất cả các mục đích vào từng bài thi. Nhưng, tổng thể chương trình của môn học phải bao hàm đủ các mục đích.

Đổi mới đào tạo các ngành liên quan

Tiến sĩ Nguyễn Đăng Nguyên, Trưởng khoa Ngữ văn Anh Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho Thanh Niên hay ông đang yêu cầu các thầy cô trong đơn vị đổi mới chương trình đào tạo, nhất là ở bộ môn bị tác động đáng kể bởi AI như biên-phiên dịch. "Định hướng của khoa là phát triển ‘bilingualism’ (tri nhận song ngữ Việt-Anh) chứ không đơn thuần dịch theo kinh nghiệm hay theo công nghệ", ông nói.

Với bộ môn giảng dạy tiếng Anh, định hướng là kết hợp công nghệ dựa trên nền tảng ngôn ngữ học. Còn với chuyên ngành văn hóa-văn học, yêu cầu tiên quyết đặt ra là phải biết kết hợp tri thức bản địa với kho tàng hiểu biết của thế giới.

PGS-TS Kang Myoung Sook cũng nhận định trong bối cảnh mới, một số chương trình đào tạo truyền thống như biên dịch hoặc phiên dịch thuần túy đã không còn hút sinh viên. Thay vào đó, trường bà mở các chương trình mới như dịch thuật kết hợp AI, hướng dẫn cách sử dụng một cách thông minh. Nhưng bà cũng nhấn mạnh dù AI có thể dịch văn bản trong vài giây, vai trò của người biên-phiên dịch chuyên nghiệp vẫn không thể thay thế. Đó là vì con người có thêm trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, đi cùng đó là khả năng phán đoán.

Ví dụ ở câu 'He gave her a ring', có thể xuất hiện 2 mặt nghĩa , gồm 'Anh đã đưa cho cô chiếc nhẫn', hoặc 'Anh đã gọi điện thoại cho cô'. "AI sẽ không thể hiểu được nội dung thực sự mà người nói muốn truyền tải là gì, trong khi con người có thể quan sát ngữ cảnh và truyền tải thông điệp chính xác. Đây mới chính là giá trị của con người", PGS Sook chia sẻ.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.