
Quang cảnh buổi tọa đàm diễn ra chiều 25.9
ẢNH: NGỌC LONG
Chia sẻ tại tọa đàm diễn ra trong khuôn khổ hội thảo, bà Nguyễn Hồng Hạnh, nhà sáng lập và Giám đốc điều hành Edtech Agency (Hà Nội), nêu thực tế rằng các trường đại học (ĐH) tuy không biến mất - ít nhất trong dài hạn - nhưng lại dần mất đi vị thế độc quyền.
Lý giải, bà chia sẻ trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp đã không còn yêu cầu ứng viên phải có bằng ĐH - thay vào đó tuyển dụng hoàn toàn dựa trên năng lực. Như vậy, ứng viên hoàn toàn có thể tìm đến các trung tâm đào tạo kỹ năng của tư nhân hoặc doanh nghiệp, hay học các khóa cấp chứng chỉ vi mô trên một số nền tảng trực tuyến như Coursera, edX, Udemy...
"Công ty của tôi cũng không đưa ra yêu cầu bắt buộc về bằng cấp. Nếu đáp ứng một số kỹ năng và kiến thức nhất định, vượt qua các bài kiểm tra và phỏng vấn, ứng viên có thể được tuyển dụng. Bằng ĐH đã không còn quan trọng như trước", bà nói. "Đây là xu hướng chung đang bắt đầu diễn ra trên toàn cầu. Và ở một số quốc gia, điều này rất phổ biến".
Từ thực tế này, bà Hạnh nhận định các ĐH cần chuyển mình thành nơi để người học có thể học tập suốt đời, thông qua việc phối hợp doanh nghiệp để cung cấp những khóa học chứng chỉ vi mô. Điều này giúp người học sau khi tốt nghiệp có thể bắt đầu làm việc ngay thay vì phải trải qua kỳ thực tập kéo dài hằng tháng trời.
Một điểm khác, theo bà Hạnh, là nhiều doanh nghiệp đang đặt câu hỏi, "Tại sao trường ĐH không rút ngắn thời gian đào tạo, xuống còn 2-3 năm thay vì 4-5 năm như hiện tại, để người học sớm tiếp xúc với ngành nghề và môi trường làm việc thực tế ở doanh nghiệp?". Bởi họ cho rằng, vài môn có thể lược khỏi chương trình chính quy để sinh viên tự học thêm ở nhà.

Bà Nguyễn Hồng Hạnh cho rằng bằng ĐH đang dần mất đi ưu thế trong bối cảnh mới
ẢNH: NGỌC LONG
GS Sherman Young, Thừa hành phó chủ tịch Hội đồng trường (phụ trách giáo dục) kiêm Phó giám đốc ĐH RMIT (Úc), chung nỗi băn khoăn. Ông đặt vấn đề, giáo dục phổ thông 12 năm (K-12), tới giáo dục ĐH 4 năm và sau đó là giáo dục sau ĐH từ 2-3 năm liệu có thực sự là mô hình chúng ta cần có trong tương lai. "Đó là thói quen văn hóa và lịch sử của thế hệ tôi và cha mẹ, nhưng trước kia chưa chắc đã như thế", ông nói.
Ông Young dẫn ví dụ thực tế về một sự kiện trường ông vừa tổ chức với một nhóm các hiệu trưởng trung học ở TP.Melbourne, Úc. Tại đây, những nhà quản lý giáo dục đều cho rằng ĐH cần tiếp xúc với các trường phổ thông sớm hơn - không nhất thiết để cung cấp các chương trình giáo dục, mà để giúp học sinh nhìn rõ hơn những lộ trình và cơ hội mà giáo dục bậc cao có thể mang tới.
"Bởi, mọi thứ không còn rõ ràng như trước, như học xong phổ thông thì vào ĐH. Hiện nay có nhiều lựa chọn hơn, và thế giới việc làm cũng như cuộc sống sau giáo dục phức tạp hơn rất nhiều", ông nhận định. Đó là lý do ông cho rằng các nhà giáo dục cần phải suy nghĩ lại về vai trò của các trường ĐH trong tương lai.
Cùng quan điểm, PGS Tim Fawns, Học viện Giáo dục Monash, ĐH Monash (Úc), nói rằng các trường cần rộng cửa đón nhận thay đổi. Tuy nhiên, cần tránh rơi vào "bẫy" phải đổi từ A sang B, mà thay vào đó các trường cần cân nhắc theo hướng tổng hòa giữa A, B và cả C.
Chẳng hạn, chúng ta có thể hô hào chuyển sang học tập suốt đời, tức chỉ học từng phần khi cần chứ không nhất thiết theo đuổi chương trình ĐH 4 năm. Điều này có thể hiệu quả với một số lĩnh vực và một số trường hợp, nhưng không đúng với tất cả, bởi người học có nguy cơ đánh mất chiều sâu kiến thức được tích lũy qua thời gian - thứ mà một quá trình học tập dài lâu cùng các bên liên quan mới có thể mang lại được.
"Thế nên chúng ta có thể mở rộng các khả năng mà không đánh mất sự tinh tế và chiều sâu của mô hình truyền thống không? Vì truyền thống không có nghĩa là lỗi thời và một số thứ vẫn hoạt động tốt", ông Fawns đặt vấn đề. "Chúng ta cần nghiên cứu cách tạo ra những mô hình mới an toàn, hiệu quả, giúp các nhà giáo dục thích nghi, trau dồi kỹ năng cần thiết để dạy trong những mô hình đó đồng thời xây dựng cơ chế ghi nhận và khen thưởng phù hợp".

PGS Tim Fawns kêu gọi các bên tránh cải tổ ĐH theo hướng cực đoan từ mô hình A sang B, mà nên có sự tổng hòa giữa các mô hình
ẢNH: NGỌC LONG
"Hàng ngàn năm trước, chúng ta không cần bằng ĐH để tham gia thị trường lao động. Sau đó, thế giới có điện, cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra và rồi tấm bằng trở thành yêu cầu để gia nhập lực lượng lao động. Tới nay, chúng ta lại nói rằng đừng yêu cầu bằng cấp, miễn là người lao động hoàn thành công việc", tiến sĩ Hoàng Anh Đức, Giám đốc Trung tâm Đổi mới dạy và học, Viện Nghiên cứu cao cấp về toán, kiêm nghiên cứu viên Trường ĐH RMIT Việt Nam, ví von.
Cũng ở tọa đàm, PGS Fawns thẳng thắn cho biết trường ĐH không có quá nhiều quyền qkiểm soát trước việc sinh viên mới tốt nghiệp có bị thay thế bởi trí tuệ nhân tạo (AI) hay không, vì điều này do doanh nghiệp quyết định. Tuy nhiên ĐH có thể giúp các bạn xây dựng những kỹ năng cần thiết, không chỉ để thích nghi với bối cảnh thế giới mới mà còn có thể ứng phó với những thay đổi sẽ xảy ra.
Chúng ta cần liên tục đặt câu hỏi: làm sao để người học không chỉ hiểu cách làm những việc trước đây họ cần biết, mà còn có thể tạo ra con đường nghề nghiệp riêng thay vì chỉ rập khuôn noi theo một lộ trình đã được vạch sẵn", ông Fawns nêu quan điểm.
"Nếu AI có thể làm được việc nào đó, không có nghĩa là con người nên ngừng làm việc đó. Bởi, niềm vui sẽ xuất hiện khi tự mình làm điều mình muốn duy trì. Chưa kể, nếu chúng ta quá tập trung vào cách nhìn thuần túy rằng con người không cần làm những điều máy móc có thể làm, chúng ta sẽ nhanh chóng đánh mất một phần tính người của mình", GS Young cảnh báo.

GS Sherman Young kêu gọi các trường cùng suy nghĩ về vai trò mới của giáo dục ĐH
ẢNH: NGỌC LONG











Bình luận (0)