Thấy Miên, mắt anh chàng rực rỡ như ánh lửa. Kiềng nhảy xuống, con dê nhỏ trên xe kêu be be rồi cũng tót xuống vui vẻ hồn nhiên. Miên mỉm cười trước thầy trò nhà Kiềng. Đi đâu cũng dắt con dê nhỏ, mặt mũi lém lỉnh hề hề. Con dê nhỏ như hiểu lòng chủ, đứng bên hố đất của Miên kêu ầm ĩ như muốn nói: "Ông chủ sao không mau xuống xúc đất cho cô Miên?". Kiềng như hiểu ý, bước tới xua tay:
- Miên để đấy anh làm cho!
Nói rồi chàng nhảy xuống, bổ những nhát cuốc xắn lên từng miếng đất thịt vàng dẻo như mỡ bò. Miên nghe tiếng Kiềng thở hối hả, cô bối rối lùi lại:
- Cứ để em lấy từ từ về cũng được mà!
Kiềng quẹt giọt mồ hôi bằng chiếc khăn Mrang. Ngay cả chiếc áo Aw kamei của Miên cũng dính sát người vì mồ hôi thấm đẫm. Ánh mắt Kiềng trìu mến làm Miên bối rối, cô bước lên khỏi hố đất để cách xa hơi thở dồn dập của anh. Không biết vì anh cuốc mệt hay bởi cô đang mặc bộ áo Aw kamei bó sát cơ thể?

MINH HỌA: TUẤN ANH
Miên bước lên mặt ruộng. Dòng sông Quao bé nhỏ lượn quanh cánh đồng của làng Paley Hamu Trok mới duyên dáng làm sao. Nó giống như eo người thiếu nữ Chăm đứng bên bàn đỡ nặn bình gốm ở làng. Nghe nói rằng, mảng đất sét của cánh đồng Hamu Nulank này có được nghìn đời nay là do sông Quao đem phù sa đến tạo thành. Chỉ có đất nơi đây mới làm được nguyên liệu cho làng gốm Bàu Trúc của Miên.
Ở dưới hố, Kiềng cuốc xắn từng tảng đất ném lên cộ bò. Anh vừa làm vừa cười vui với đôi mắt đen láy như mắt sơn dương nhìn mây trời rực nắng. Hàm răng trắng lấp lánh hồn nhiên đầy sung sướng. May quá hôm nay Kiềng mới gặp được Miên. Thỉnh thoảng anh cũng đảo qua làng để nhìn vào cái sân nhà Thang Tông Jaka bé nhỏ bên rặng duối. Nhưng lần nào cũng thấy Miên đứng mải miết nặn vò, không để ý ai, nên anh đành ra ngồi dưới gốc duối già bên lạch nước nghĩ vẩn vơ. Đã mấy lần Kiềng muốn nhờ Miên nặn cho anh một chiếc bình để cắm hoa Tagalau nhưng anh lại ngại. Thực ra, lần nào Kiềng đi qua hay lấp ló ở rặng duối già ven sông Miên cũng biết. Bởi tiếng chân anh thoảng nhẹ trên nền đất mịn màng rất đặc biệt, y như tiếng gió lướt qua vườn me, nhưng cô vẫn giả lơ. Có khi cô còn mỉm cười tinh nghịch, ai biểu nhút nhát?
Kiềng ghé qua nhà Miên chia một phần ba xe đất làm Miên bối rối. Mẹ Miên nhìn con gái chớp mắt rồi lắc đầu, bà nói với Kiềng:
- Để cô gửi tiền công cho cậu nghe!
Kiềng xua tay rối rít:
- Có đáng gì đâu cô, tiện con đi qua lấy cho cô và Miên mà!
Chợt ở ngoài cổng có tiếng nói râm ran, sau đó là bước chân của Vạn, con ngài Sư cả Po Adyhya Hán Phải. Vạn mặc bộ Aw Sah, đầu đội khăn Khan Mathem taibi sang trọng như đi hành lễ làm cho mẹ con Miên hơi e ngại. Kiềng cũng lúng túng, hối hả lẳng lặng thu dọn xe cộ. Chỉ có con dê như bực mình thay chủ, cứ chăm chăm muốn nhào vào húc cậu công tử làng.
Vạn xua tay:
- Tôi đến xin nhờ dì với em Miên làm giúp ít bình để sắp tới làm lễ Katê thôi chứ không có gì.
Mẹ Miên cúi đầu vẻ thuần phục vì mấy khi đại diện chức sắc làng đến nhờ cậy, nhất là chàng Vạn đầy cao quý này.
Quẹt tay lau mồ hôi, Kiềng vội vàng đánh vào mông con bò. Con dê con cáu kỉnh kêu lanh lảnh rồi nhảy tót lên thùng xe. Tiếng chân bò rảo nhanh ra ngõ. Kiềng đăm chiêu không ngoái đầu lại.
***
Miên quẹt mồ hôi trán, ánh mắt long lanh như cả vòm trời trong veo hiện trong đó. Cô đang vê chiếc bình sani, những ngón tay mềm mại miết vào thịt đất ẩm ướt. Chỉ mấy phôi đất cứ theo tay cô vươn lên, vươn lên ngước nhìn đôi mắt lấp lánh ẩn hiện trong rợp mi đen nhánh cong vút. Dù chưa hoàn thiện nhưng chiếc bình sani dường như vô cùng khấp khởi hạnh phúc vì được cô chủ nâng niu, vuốt ve. Trong lòng Miên vẫn ngợp vui vì câu nói của Vạn: "Miên làm cho anh bình sani để cắm cành Tagalau nhé!". Khi đó Miên chỉ lặng lẽ cúi đầu nhưng đôi mắt ánh lên niềm hạnh phúc dâng trào. Bởi mấy khi gặp được Vạn mà lại được anh ấy nhờ vả như vậy. Ở làng gốm này có hàng trăm người làm gốm, cùng tuổi như Miên cũng rất nhiều, mà Vạn đến tận nhà đặt hàng chứng tỏ trong mắt Vạn, đôi tay của Miên uyển chuyển và kỳ diệu biết nhường nào. Mẹ cũng nói: "Cậu Vạn sang tận nhà mình đặt hàng cho thánh lễ là chứng tỏ họ trân quý con lắm đó!".
Nói đến đó, bà bâng khuâng chợt nhớ về thuở thiếu nữ của mình. Khi ấy Trụ - tên bà - là cô gái duyên dáng nhất làng. Đặc biệt đôi tay của Trụ nổi tiếng như múa trên phôi đất, chỉ cần vài vòng lượn chân là từ thỏi đất đã hình thành chiếc bình, vò hoàn mỹ, láng mướt vệt nước tô. Nhiều trai làng đi qua nhìn thấy Trụ dựng bình cứ lịm đi, rồi bối rối không biết có phải những cái bình sani kia là hóa thân của thân hình uyển chuyển mềm mại của nàng? Trong số đó có một chàng trai thuộc chức phận giáo sĩ Bà La Môn cũng mê đắm Trụ nhưng danh phận không cho phép họ bước qua, chàng đành bỏ đi đến miền khác để Trụ ở lại bơ vơ với rặng duối xanh ngút ngát buồn rầu bên dòng sông Quao.
Bà Trụ bừng tỉnh khỏi hồi ức, nhìn con gái đang như múa quanh chiếc bình sani óng ánh nước. Bà thảng thốt về sự ngẫu nhiên của con gái mình giống hệt như năm xưa của mình. Mặc dù chưa thấy Miên tâm sự gì, nhưng qua linh cảm và lời thì thào của gió làng, bà biết con gái mình thích chàng trai quý tộc đó.
Miên cũng hiểu mẹ rất thích Vạn. Ừ sao mà không thích chàng trai khôi ngô tuấn tú ấy cho được. Nhớ có lần đang bưng giỏ đựng bình đi trên làng, gặp con bò điên nhào vô làm cô ngã dúi, những chiếc bình lăn lông lốc đến tội nghiệp. Vạn đang phóng xe qua, dừng phắt lại đánh đuổi con bò điên rồi ân cần đỡ Miên dậy:
- Không sao đâu em!
Anh vừa nhặt từng bình phủi bụi đất bỏ vào giỏ cẩn thận vừa bảo:
- Em đi đâu anh chở luôn cho tiện…
Ngồi sau xe Vạn, Miên thấy sực ấm mùi đàn ông. Bởi từ bé đến lớn trong nhà chỉ có mẹ nên mùi áo của Vạn làm cô thấy miên man kỳ lạ.
Có lần ở đền, Miên đắm đuối ngồi nghe Vạn đọc tình ca Chăm, giọng Vạn ấm áp mà mềm mại như làn khăn Mrang anh đang đội. Nghe nói anh thuộc làu các chữ cổ của sử thi in trên lá buông cất ở thất miếu, thế nên nhiều Sư cả đều gật gù về sự uyên bác của chàng trai. Nhưng điều Miên thấy lưu luyến nhất là có lần đến chơi khi mẹ đi vắng, Vạn cầm tay Miên nói thì thào: "Bàn tay em chẳng khác gì bàn tay của nữ thần Pô Inư Nagar".
Bà Trụ cúi xuống vuốt nhẹ một đường lượn trên bình đầy run rẩy về ký ức. Ngoài ngõ, nắng chập chờn xiên qua những cành hoa giấy, bà cụ Nghệ mù ở cuối làng đang lò dò gậy bước tới. Đến gần Miên, bà Nghệ ngồi xuống ngước đôi mắt lòa ướt át:
- Con Miên làm hàng cho cậu Vạn và Sư cả Po Adyhya à?
Miên im lặng không nói gì, bà Nghệ tiếp lời:
- Nghe nói tới tháng 10 cậu Vạn sẽ tế phong làm Kadhar đấy, nhà ấy đã đặt ba con trâu để đãi làng...
Bà Trụ cười thầm, nể phục bà cụ mù việc gì cũng biết. Biết đâu bà ấy chả biết cậu Vạn có ý với con Miên không chừng.
Con chó khoang chợt nhỏm dậy ngoác mõm ra ngõ sủa inh ỏi, Miên dừng tay nhìn ra. Từ ngoài cổng rực nắng, Inrahani Thuận xuất hiện với bộ Aw tha baong đỏ rực. Miên thảng thốt khi nghe bà Nghệ ngước lên:
- Chào cô Inrahani! Lâu quá mới gặp cô!
Thuận cúi xuống lễ phép thật dịu dàng:
- Cháu chào bà, chào cô Trụ, chào Miên!
Bà Trụ ân cần:
- Có gì không Thuận?
- Dạ, cháu sang đây nhờ cô và Miên làm thêm cho ít vò để chuẩn bị cúng Rija Dayep của họ nhà cháu.
Nói rồi nàng nhìn tay Miên đang vuốt ve hoàn thiện bình sani:
- À, Miên đang làm bình cho anh Vạn phải không? Đẹp quá!
Ánh mắt Inrahani lấp lánh lém lỉnh với một vẻ tự tin thầm kín. Miên chợt nhớ những lần gặp Thuận trong lễ Katê, lúc nào cũng mặc áo đỏ, ánh mắt sáng lấp lánh quý phái. Có lần thấy Vạn, Thuận bước đến cầm tay anh rất thân mật làm Miên cảm giác tái lòng.
Khi nghe tiếng chân Inrahani rời xa, bà Nghệ mù nói thì thào: "Con bé này nó muốn bắt cậu Vạn đấy!". Câu nói như lưỡi dao mỏng cắt đôi bình sani của Miên. Bàn tay cô run rẩy, ngõ cổng tối sầm... Miên dừng tay bỏ lại chiếc bình đang dang dở rồi bước vào nhà.
***
Kiềng ngồi trên vạt cỏ ngắm nhìn dòng sông Quao lững lờ trôi. Một con sông của làng chạy vòng quanh cánh đồng Hamu Nulank đầy lưu luyến. Mùa nắng nó bé nhỏ như một chiếc khăn Khanluk xanh quấn trên đầu người phụ nữ đầy xao xuyến. Chỉ mùa mưa nó mới phủ rộng cánh đồng, bồi đắp phù sa lên các hố đất mà dân làng đào lấy về làm gốm. Bởi vậy người ta hay nói từ thuở ông Po Klong Chanh - vị quan thời nhà vua Po Klong Garai dạy dân làng cách lấy đất nặn bình nung gốm, đến nay cánh đồng vẫn luôn ngập đầy đất dù dân làng nhiều đời lấy hàng vạn tấn đất. Những phiến đất sét dẻo quánh mịn màng màu khoai lang là thứ duy nhất có thể làm ra thứ gốm tốt nhất. Thế nên hơn một ngàn năm nay làng gốm tồn tại chính là từ cánh đồng Hamu Nulank và dòng sông Quao bé nhỏ, dịu dàng, đằm thắm này.
Từ xa xa trên cánh đồng có bóng mấy người phụ nữ đội giỏ Ciet đi thấp thoáng trong bụi cỏ cao làm Kiềng liên tưởng đến Miên. Dáng đi của nàng như gió lượn, luôn phấp phới áo khăn uyển chuyển, mềm mại mà lấp lánh. Nhớ mấy lần khi Miên còn là học sinh đi học về trên đường đất đầy nắng, Kiềng giả vờ đánh xe cộ đi cắt ngang để chở Miên cùng nhóm bạn về nhà nhưng chẳng được mấy lần, vì các cô nàng đều kiếm xe đạp đi học, làm anh trai làng đứng chơ vơ bên cây sam giữa đồng. Kiềng đã mấy lần định bảo mẹ sang thưa chuyện với mẹ Miên, xin góp chung đàn cừu của mình cho hai gia đình thân thiết nhưng lại ngại. Miên học giỏi lại hát hay, làm gốm có tiếng. Nhưng Kiềng đâu có kém gì, những dịp hội làng anh đã từng hát giữa mọi người những bài dân ca Chăm cháy bỏng, từng nhảy lửa, múa roi, đánh trống Baranưng quyến rũ. Nghe giọng hát của Kiềng, nhiều người nói: "Thằng Kiềng giá mà… có chức vị thì đời nó đâu đến nỗi". Ý nói với người Chăm theo đạo Bà La Môn tuy đã bớt nhiều tục lệ khắc nghiệt về đẳng cấp nhưng vẫn chưa xóa nhòa được hết. Kiềng chỉ là con thường dân chứ không thuộc đẳng cấp trung lưu của làng. Như dòng nước sông Quao hồn nhiên không linh thiêng như đập nước Cakling thần thánh có từ thời vua Po Klong Garai, hay lộng lẫy như các ngọn tháp của Pô. Kiềng hàng ngày vẫn đi chăn cừu, dê hay đánh xe bò chở đất, hàng hóa cho làng. Những dịp Katê hay tết đầu năm, anh đi phụ cho các sư cả chở đồ đạc để cúng tế.
Có lần ra sông Quao tắm, Kiềng nhớ đến tích huyền thoại về vị vua Po Klong Garai. Khi mới sinh, ngài chỉ là cậu bé Ja Kathaut xấu xí, ghẻ lở đầy mình. Nhờ tắm nước sông do dãi của con rồng nhả ra, ghẻ lở tan hết, cậu lớn phổng phao thành một người cường tráng, sau được nhà vua vời vào triều, cử đi đánh giặc lập được nhiều công trạng và được truyền ngôi trở thành vị vua nổi tiếng sau này. Chuyện này cứ làm cho Kiềng thấy ngộ ngộ và có chút gì đó bâng khuâng mãi, như con đường làng bé nhỏ tít tắp ngập mùi dê cừu và cỏ khô, Kiềng vẫn đi trên đó cùng đàn cừu hay chiếc xe cộ bò thủng thẳng mà buồn rười rượi.
Đêm ấy, Kiềng nằm giữa bầy cừu ngoài bãi cỏ. Tiếng chuông leng keng trên cổ dê ngân vào sương khuya. Anh lấy trong túi áo ra chiếc vòng tay bằng sừng dê đã gọt nhẵn, đánh bóng suốt mấy tháng trời. Ban đầu định mang sang tặng Miên. Nhưng rồi lại cất vào ngực áo. Người con gái có đôi bàn tay làm nên những chiếc bình đẹp nhất làng đâu cần món quà vụng về của một người đánh xe bò.
***
Miên nhớ có lần cùng Vạn ngồi dưới tán cây Tagalau già trên sườn đồi. Từ đây nhìn ra cánh đồng và dãy núi đá đầy đỉnh chóp trắng xóa nắng. Trên sườn núi thấp thoáng những đàn dê tha thẩn gặm lá. Nhiều con leo hẳn lên ngọn cây như làm xiếc để vừa gặm mầm non vừa ngắm mây trời bao la. Với chúng, dù nắng dù mưa hay giá rét cũng như bụi bay, chẳng bao giờ màng đến để ưu tư suy tính như con người. Nghĩ đến đây, Vạn cầm tay Miên, đôi tay mềm mại như nước, mát rượi. Cũng đôi tay ấy, khi Miên vuốt trên phôi đất như huyền ảo, chỉ vài đường lượn quanh đã hình thành sản phẩm. Miên nhặt vài bông hoa Tagalau tím rụng vương quanh, bần thần nhìn đôi dê xa xa cũng đang ngước nhìn mình. Chúng thản nhiên đầy hạnh phúc.
- Miên ạ! - Giọng Vạn nặng trầm đầy khắc khoải - Cha của mình có nói sắp tới sẽ làm lễ Tôn chức Kadhar.
Miên không biết nói gì nhưng bằng linh cảm, nàng biết rằng như vậy chính thức Vạn đã bước vào con đường chức sắc theo nghiệp dòng tộc đẳng cấp của mình.
- Mừng cho anh! - Miên thì thào.
Vạn như hiểu ý, bóp chặt bờ vai mảnh mai của cô bạn gái:
- Anh sẽ thưa với bố mẹ để nhận em làm bạn...
Miên thầm vui vì chàng trai của mình trở thành vị chức sắc trẻ trung, tài năng và uy tín nhất thế hệ của mình.
- Nhưng nhà em bé quá sao đón anh về được đây?
- Không sao, tấm lòng của mẹ và em rộng mở là anh ở được…
Vạn ôm chặt Miên, để cho những cánh hoa Tagalau tím rụng kín người. Cả hai cùng nằm xuống thảm lá khô nghe gió vi vu lâng lâng hạnh phúc.
Vậy mà giờ đây khi Miên đứng ở bên rặng me của làng, có tiếng trống Ghinăng, Baranưng rộn rã, tiếng kèn Saranai lảnh lót, Sư cả rót rượu, bà bóng nắn nót sắp đặt quà tế… Vạn mặc lễ phục lấp lánh phủ phục nhận rượu, bộ trang phục Kadha bên cạnh Inrahani Thuận đang chắp tay.
Thế là đã hiểu! Lời nói như gió thoảng, Vạn đã chẳng vượt qua được bình nguyên đẳng cấp đầy gió lộng nắng tràn. Bình gốm trên tay Miên rơi xuống lăn tròn như một trái tim khô lăn bên vệ đường.
***
Đêm mẻ nung gốm. Cả bãi đất đỏ rực như vầng dương chói lọi. Những người phụ nữ Chăm vừa tiếp củi vừa hát Arya. Tiếng hát mỏng như khói quyện lên trời sao. Miên ngồi lặng lẽ nhìn chiếc bình sani của mình nằm giữa đống lửa. Những ngọn lửa chồm lên nghiến ngấu nhưng sani vẫn thản nhiên chịu đựng, có thể nó cũng rất đau đớn, cũng như Miên vậy. Nó sẽ làm ta khác đi như số phận định sẵn.
Chập chờn trong bóng lửa, xa xa có một ánh mắt đang nhìn tới. Đó là Kiềng. Anh nhìn ánh lửa lấp loáng trên dòng sông Quao, nước trôi ánh lửa đi mãi… Kiềng muốn tới bên Miên nhưng đôi chân anh cứ cứng lại. Con dê nhỏ cáu kỉnh húc vào lưng chủ như thúc giục. Anh nằm vật xuống cỏ.
Miên mím môi, miết vỏ bình sani cuối cùng dưới làn nước mắt chứa chan rơi. Miên vẫn để nguyên, mặc cho dòng nước mắt chảy dài trên thân bình.
Bảo tàng thành phố Casablanca, Ma Rốc đang trưng bày sản phẩm di sản văn hóa của UNESCO. Khi nắng từ cửa kính chiếu vào thân bình gốm có tên Sani, các đường vân đỏ óng lên như màu máu. Người hướng dẫn mỉm cười bảo đó là bí quyết của nghệ nhân Chăm làng gốm Bàu Trúc Việt Nam xa xôi.
Năm ấy trên cánh đồng Hamu Nulank có một cô gái đã để giọt nước mắt mình rơi xuống thấm vào bình trước khi nung qua lửa đỏ. Có lẽ chính đất đã giữ lại những giọt nước mắt ấy, để chúng còn lấp lánh mãi dưới ánh mặt trời.
Bình luận (0)