TS Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, không chọn một biểu tượng lớn để nói về Nam bộ. Bà chọn chiếc tắc ráng - thứ ghe nhỏ, dài, có gắn máy đuôi tôm phía sau. Với bà, chính hình ảnh ấy gói khá trúng cá tính của vùng đất này: thích ứng, linh hoạt và luôn biết tự làm mới mình.

Chợ Bình Tây - hình ảnh đại diện cho tinh thần hội tụ và dung hòa của TP.HCM
Ảnh: L.Y
NAM BỘ KHÔNG CHỈ CỞI MỞ MÀ CÒN BIẾT TỰ LÀM MỚI MÌNH
Nếu phải mô tả về Nam bộ bằng một hình ảnh, bà sẽ chọn gì? Tại sao?
TS Nguyễn Thị Hậu: Đó là chiếc tắc ráng. Tôi chọn nó vì nó thể hiện những đặc trưng nhất của cá tính Nam bộ: thích ứng, linh hoạt và đổi mới. Thích ứng vì chiếc tắc ráng nhỏ, thuôn, có thể đi trên sông lớn cũng có thể len lỏi vào kinh rạch nhỏ bé, ngoằn ngoèo... Linh hoạt vì nước lớn, nước ròng đều chạy được, chở 1 hay 2, 3 người, nôm na là thay thế chiếc gắn máy trên bờ. Đổi mới là từ chiếc ghe, xuồng ba lá truyền thống nhưng gắn thêm động cơ, vật liệu cũng đổi sang composite để nhẹ và bền hơn. Chiếc tắc ráng còn mang tính đa năng, không chỉ dùng để di chuyển mà còn có thể chở hàng hóa, buôn bán nhỏ trên sông rạch. Bây giờ còn dùng phục vụ du khách vì tiện lợi, sạch sẽ.

TS Nguyễn Thị Hậu nói về bảo tồn di sản Sài Gòn – TP.HCM
Ảnh: NVCC
Người ta thường khen Nam bộ là vùng đất cởi mở. Theo bà, vậy đã đủ chưa, còn điều gì làm nên năng lực hội tụ và dung hòa văn hóa của vùng đất này?
Cởi mở thì đúng nhưng chưa đủ và nếu chỉ nói vậy e rằng hời hợt. Điều làm nên năng lực hội tụ và dung hòa của Nam bộ không chỉ là tính cách cởi mở mà là cách hệ thống xã hội nơi này vận hành.
Trước hết là cơ chế xã hội. Nam bộ không tự tạo ra những trung tâm khép kín mà ngược lại, nơi ai đến cũng được đón nhận. Nếu một vùng đất khép kín thì không thể hấp dẫn người khác đến để tìm cơ hội mới, cũng không thể kích thích sự thử nghiệm, sáng tạo. Đến vùng đất mới là để làm ra cái mới, chứ không thể mang nguyên mô hình cũ tới đây.
Về mặt kinh tế, để sinh sống ở đây, mọi người phải hợp tác để tồn tại. Người Hoa phát triển thương nghiệp và thủ công nghiệp, người Việt phát triển nông nghiệp, không có sự liên kết ấy thì không thể phát triển kinh tế. Đồng thời còn phải gắn bó với cộng đồng bản địa như người Khmer ở miền Tây, đồng bào thiểu số ở miền Đông Nam bộ để học hỏi kinh nghiệm thích ứng với tự nhiên... Nhờ vậy các "miệt" đều phát triển, kinh tế mang tính thị trường sớm và vận hành thông suốt.

TS Nguyễn Thị Hậu cùng đồng nghiệp tại di tích Giồng Cá Vồ (Cần Giờ)
Ảnh: NVCC
Về mặt văn hóa, Nam bộ tiếp nhận mọi khác biệt trên tinh thần bình đẳng. Ở đây, các cộng đồng đều không tự đặt ra một chuẩn duy nhất rồi xem văn hóa khác là nhỏ hơn, thấp hơn. Nam bộ tích lũy rất nhanh kiến thức, nền tảng văn hóa, lối sống… nhưng không đóng khung vào bất cứ một mô hình nào. Cái mới ở Nam bộ thường không xóa cái cũ, mà tái cấu trúc cái cũ. Từ nhạc lễ triều Nguyễn vào đây, trong bối cảnh xã hội mới mà hình thành ra đờn ca tài tử, rồi từ đó cải lương ra đời và phát triển. Cải lương không phủ định đờn ca tài tử, mà lớn lên từ đó, đồng thời đờn ca tài tử không mất đi mà vẫn tồn tại sâu rộng trong cộng đồng.
Nói về Nam Bộ không thể không nhắc đến con người Nam bộ "rất cởi mở, khoan hòa". Vì lưu dân người Việt, người Hoa vào đây đa phần là tầng lớp bình dân, nên không phân biệt nguồn gốc, đẳng cấp, thân phận, bình đẳng với nhau, sống giản dị. Cũng vì là người bình dân nên góc nhìn của họ rất thực tiễn, không định kiến, dễ chấp nhận cái khác biệt để cùng tồn tại. Người Nam bộ không quen "đóng cửa khép lòng".
TỪ CẢNG THỊ BIỂN THÀNH TRUNG TÂM VĂN HÓA NAM BỘ
Là một tiến sĩ khảo cổ, trong nhiều nghiên cứu của bà, Cần Giờ hiện lên như một "mặt tiền" và "trạm trung chuyển" của Nam bộ. Nếu kể lại câu chuyện Nam bộ từ Cần Giờ, câu chuyện sẽ khác đi ra sao?
Nam bộ không phải là vùng đất mới. Chứng tích khảo cổ cho thấy từ hơn 2.000 năm trước (thời tiền, sơ sử), "cảng thị sơ khai" Cần Giờ đã phát triển thương mại bằng đường biển, hàng hóa luân chuyển sâu vào đất liền qua các con sông lớn. Di chỉ khảo cổ học quốc gia Giồng Cá Vồ ở Cần Giờ đã chứng minh điều đó khi tìm thấy rất nhiều đồ tùy táng như đá ngọc, dụng cụ sinh hoạt, vũ khí… có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á.
Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 6, tại khu vực An Giang ngày nay, Óc Eo - Ba Thê là một trong những thương cảng trung tâm của khu vực Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Ấn Độ và Trung Hoa.

Cơm 2.000 đồng - hoạt động nghĩa tình của người dân Sài Gòn - TP.HCM
Ảnh: L.Y
Vì thế, trước khi trở thành vựa lúa của cả nước, Nam bộ đã là trung tâm giao thương của khu vực. Cái gốc "hướng biển" ấy giải thích vì sao vùng đất này sớm biết mở cửa và có năng lực tiếp nhận những nền văn hóa khác và dung hòa sự khác biệt đến vậy. Đến nay, "văn hóa biển" ở Nam bộ vẫn còn hiện diện trong mọi mặt đời sống.
Nếu phải giải thích thật ngắn gọn vì sao Sài Gòn - TP.HCM là nơi nén mạnh nhất sức sống Nam bộ, bà sẽ bắt đầu từ đâu?
Trước hết là vị trí. Sài Gòn - TP.HCM nằm ở vị trí trung tâm giữa Đông và Tây Nam bộ, lại là cửa ngõ quan trọng ra biển (qua Cần Giờ) của cả vùng nam Đông Dương. Không phải ngẫu nhiên mà ngày trước chúa Nguyễn Ánh chọn nơi này để xây thành Gia Định (năm 1790). Đó là vị trí trời cho nhưng cũng là vị trí được con người nhận ra và tận dụng.
Kế đó, mô hình lịch sử của thành phố không theo một khuôn mẫu cố định mà luôn biến đổi. Đó là mô hình mở: từ trung tâm thương mại (vùng Chợ Lớn), trung tâm hành chính (vùng trung tâm TP.HCM ngày nay) sau đã sáp nhập, tái cấu trúc thành đô thị - thương cảng Sài Gòn. Nét giao thương "trên bến dưới thuyền" trở thành đặc trưng. Ở TP.HCM sức mạnh nằm nhiều ở "trên bến" với hàng loạt kho, chành, nhà máy, hình thành một nền công nghiệp xuất khẩu. Miền Tây thì mạnh ở "dưới thuyền" với nguồn cung ứng nông sản dồi dào.
Hơn nữa, trong không gian Nam bộ nói chung, đến Sài Gòn - TP.HCM mọi người đều phải tự làm mới mình. Người Trung, người Bắc quen lối sống khép kín làng xã, khi vào đây phải mở hơn để kết nối làm ăn kiểu mới. Họ tái định nghĩa bản thân trong một môi trường mở hơn.
Ngay cả không gian đô thị ở TP.HCM cũng là một dạng Nam bộ thu nhỏ. Trong đó, kiến trúc Việt, Hoa, Pháp, Khmer hòa hợp với nhau.
Theo cách nhìn của tôi, Hà Nội hay Huế khó có thể là đại diện cho cả miền Bắc, miền Trung vì ở mỗi miền đó có nhiều "tiểu vùng văn hóa" có thể phân biệt rõ ràng. Nhưng ở Nam bộ, Sài Gòn trước kia và nay là TP.HCM có thể đại diện cho cả Đông và Tây Nam bộ. Cách gọi "Anh Hai Nam bộ" chính là sự đại diện ấy.
SÀI GÒN - TP.HCM VẪN LÀ VÙNG ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU
Nếu Nam bộ là một vùng đất hội tụ và dung hòa, thì Sài Gòn - TP.HCM hôm nay đang giữ được điều gì đẹp nhất?
Điều đẹp nhất mà TP.HCM vẫn giữ được, đó là vùng đất lành chim đậu. Thành phố này vẫn thu hút người ta đến, luôn tiếp nhận người nhập cư và chia sẻ những cơ hội cho mọi người, cho bất cứ ai, dù nguồn gốc khác nhau vẫn có thể cùng tồn tại mà không tạo ra xung đột. Một điều rất hay là ở đây ít có xu hướng dựng những "hàng rào đồng hương" khép kín làm ăn kinh tế, mà chủ yếu để cùng chia sẻ tình cảm quê hương. Yếu tố dung hòa quan trọng nhất là đến đây với mục đích "làm ăn" nhưng rồi nhiều người dần tự trở thành "người Sài Gòn".

Tiểu thương chợ Bình Tây hằng ngày vẫn thắp nhang nhớ ơn người lập chợ là ông Quách Đàm
Ảnh: L.Y
Văn hóa dịch vụ của thành phố này cũng là biểu hiện đẹp. Các quán ăn, cách buôn bán, ứng xử thường theo nguyên tắc "bình đẳng, đôi bên cùng có lợi" chứ không phải người có tiền là được quyền coi thường người phục vụ. Chính sự không quá câu nệ và khả năng chấp nhận sự khác biệt đã làm nên sức hút ấy.
Còn điều gì đáng lo nhất?
Sự dễ chấp nhận tất cả một cách "vô tâm" có nguy cơ trở thành điểm yếu nếu không giữ một cái ngưỡng.
Trong đời sống hằng ngày, những hành động như chửi thề, nói oang oang nơi công cộng; không nhường chỗ cho người già, phụ nữ trên xe buýt; hung hăng trên đường phố… xuất hiện nhiều hơn. Nhiều người đang đánh mất câu "xin lỗi, cảm ơn"; mất dần tính nghĩa hiệp (không chỉ nghĩa hiệp theo kiểu bắt cướp mà theo nghĩa biết phản ứng trước cái xấu, biết đứng ra bảo vệ cái đúng và sự công bằng). Cạnh đó, trong văn bản hành chính, ngôn ngữ cần phải thống nhất nhưng trong đời sống thì ngôn ngữ cần phải giữ tính địa phương vì đó là bản sắc. Nghe giọng, cách dùng từ sẽ biết người đó ở vùng nào. Tiếng nói, phương ngữ... là di sản phi vật thể của mỗi vùng miền.
TP.HCM không chỉ là trung tâm kinh tế, mà còn là trung tâm văn hóa. Nếu chỉ nhìn thấy kinh tế mà không nhìn thấy vốn văn hóa rất đặc thù của mình, thành phố sẽ tự làm nghèo chính mình.
Nếu dẫn một người chưa hiểu về Nam bộ đến đúng một nơi ở TP.HCM để họ "thấy tận mắt" tinh thần hội tụ và dung hòa ấy, bà sẽ đưa họ đi đâu?
Tôi chọn chợ Bình Tây (Chợ Lớn). Có một thời gian dài tôi phải đi làm thêm là bỏ mối hàng ở đây nên khá hiểu và yêu thích nơi này. Đó là di sản đang sống thực sự, thể hiện rõ nét tinh thần "hội tụ và dung hòa". Vào đây có thể gặp tiểu thương người Việt, Hoa, Khmer và cả người Chăm cùng buôn bán. Công năng buôn bán ở đây rất đa dạng: sỉ, lẻ; lớn, nhỏ; hàng truyền thống lẫn hàng hiện đại; người buôn bán nhiều đời lẫn người mới vào nghề… Trong chợ thường là nghề chuyên nghiệp, buôn bán chuyên một ngành hàng. Quanh chợ là nghề không chuyên, mặt hàng cũng thời vụ hơn.
Chợ Bình Tây vẫn đang sống khỏe, sống bền vì nó có vai trò thật trong đời sống cộng đồng. Đó không chỉ là nơi mua bán mà còn là không gian xã hội, một cấu trúc ký ức đô thị. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà tên của một ngôi chợ đã sớm trở thành cái tên hành chính cho cả vùng: Chợ Lớn.
Một nét rất đáng quý của người Nam bộ là biết ơn người lập chợ. Ở chợ Bình Tây có tượng người xây chợ là ông Quách Đàm, tiểu thương hằng ngày vẫn đến thắp hương nhớ ơn. Ở vùng Phú Nhuận từ xưa đã có tên đường Lê Tự Tài - là người lập ra chợ Phú Nhuận. Hay ở Cao Lãnh hằng năm tổ chức lễ giỗ ông bà Đỗ Công Tường - chủ chợ Cao Lãnh. Coi trọng thương nghiệp, phát triển thị trường - đó là một đặc trưng kinh tế của Nam bộ và được biểu hiện rõ nhất ở Sài Gòn - TPHCM.
Nếu hình dung Sài Gòn - TP.HCM trong 20 năm nữa vẫn là trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo của Nam bộ mà không đánh đổi hồn cốt của mình, bà sẽ bắt đầu từ đâu?
Tôi sẽ bắt đầu từ quyền văn hóa của cộng đồng cư dân. Nói nôm na là quyền dân chủ cơ sở trong lĩnh vực văn hóa.
Bản sắc của thành phố này phải bắt đầu từ cộng đồng. Nếu cộng đồng không hiểu rõ mình là ai, thì họ không thể tham góp vào quy hoạch, không thể thực hành trong các thiết chế văn hóa, cũng không thể trao truyền nó qua giáo dục. Người dân không hiểu, không yêu thành phố thì không thể xây dựng và phát triển nó một cách tốt đẹp, bền vững.
Cạnh đó, người dân phải có quyền bày tỏ nhu cầu và yêu cầu của mình đối với đô thị. Đó là việc thực hiện dân chủ cơ sở. Một trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo thì ít nhất những công trình được dựng lên phải đáp ứng được nguyện vọng của người dân, phát huy được vốn văn hóa của người dân.
Nói cách khác, nếu không bắt đầu từ cộng đồng cư dân, TP.HCM rất khó trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo mang bản sắc độc đáo của mình.
Xin cảm ơn bà!
Bình luận (0)