Chính sách học bổng phải gắn với chiến lược nhân lực quốc gia

27/05/2026 05:54 GMT+7

Những năm gần đây, VN mở rộng chính sách miễn giảm học phí, học bổng và tín dụng ưu đãi cho các lĩnh vực như sư phạm, y tế, STEM, bán dẫn và khoa học cơ bản.

Đặc biệt, Nghị định 179/2026/NĐ-CP về học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đã mở ra cơ hội thu hút nhiều học sinh giỏi vào các ngành nghề then chốt cho sự phát triển quốc gia.

Thực tế cho thấy, chính sách học bổng đã bắt đầu tạo ra tác động tích cực. Ngành sư phạm 2 năm gần đây có điểm chuẩn thuộc nhóm cao nhất cả nước. Số lượng người học lựa chọn các ngành STEM cũng tăng lên đáng kể.

Chính sách học bổng phải gắn với chiến lược nhân lực quốc gia - Ảnh 1.

Sinh viên Trường ĐH Sư phạm TP.HCM trong một giờ học. Chính sách học bổng đã bắt đầu tạo ra tác động tích cực, ngành sư phạm 2 năm gần đây có điểm chuẩn thuộc nhóm cao nhất cả nước

ảnh: Ngọc Long

Tuy nhiên, học bổng và hỗ trợ tài chính chỉ giải quyết một phần bài toán đào tạo nhân lực chất lượng cao. Điều quyết định hơn là chất lượng đào tạo, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài.

Thực tế cho thấy nhiều sinh viên chọn ngành vì được hỗ trợ tài chính hơn là vì năng lực và đam mê. Không ít người bỏ học giữa chừng hoặc chuyển nghề sau tốt nghiệp do thu nhập và triển vọng phát triển chưa hấp dẫn. Điều đó cho thấy hỗ trợ tài chính cần thiết nhưng chưa đủ để giữ chân người giỏi.

Ngành sư phạm là ví dụ rõ nhất. Dù được miễn học phí nhiều năm, ngành này vẫn khó thu hút học sinh giỏi. Chỉ khi vị thế nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội phát triển của nhà giáo được cải thiện, sức hút mới tăng lên.

Khoa học cơ bản và công nghệ cao cũng đối mặt tình trạng tương tự. Nếu thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, hệ sinh thái nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ đủ mạnh để thu hút nhân tài, người học khó theo đuổi lâu dài. Thực tế cho thấy miền Trung là nơi có nhiều học sinh giỏi STEM nhờ truyền thống hiếu học và trường chuyên mạnh, nhưng tỷ lệ theo học STEM tại ĐH vẫn thấp vì cơ hội việc làm và thu nhập chưa hấp dẫn.

Một hạn chế khác là chính sách còn dàn trải, chú trọng mở rộng số lượng hỗ trợ hơn là đầu tư chiều sâu cho chất lượng đào tạo và hiệu quả đầu ra. Trong bối cảnh nguồn lực quốc gia có hạn, đầu tư thiếu trọng tâm sẽ khó tạo được đội ngũ nhân lực tinh hoa thực sự.

Vì vậy, học bổng cần gắn trực tiếp với chiến lược phát triển nhân lực quốc gia và nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Những lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng mới hay khoa học vật liệu cần được ưu tiên đầu tư dài hạn và đồng bộ.

Quan trọng hơn, hỗ trợ tài chính phải đi cùng nâng cao chất lượng đào tạo. Một sinh viên được miễn học phí nhưng học trong môi trường thiếu thực hành nghiên cứu, thiếu kết nối với doanh nghiệp thì khó trở thành nhân lực trình độ cao. Chính sách học bổng vì vậy không thể tách rời đầu tư cho ĐH nghiên cứu, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất.

Bên cạnh đó, cần gắn đào tạo với thị trường lao động. Doanh nghiệp phải tham gia xây dựng chương trình, cấp học bổng, hỗ trợ thực tập và tuyển dụng để người học nhìn thấy con đường nghề nghiệp, từ đó yên tâm theo đuổi các lĩnh vực khó như khoa học cơ bản, công nghệ.

Chiến lược phát triển nhân lực chất lượng cao cũng không thể bắt đầu muộn ở bậc ĐH. Nhiều quốc gia thành công về khoa học - công nghệ đều đầu tư mạnh cho giáo dục STEM từ phổ thông. VN cần phát hiện, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu và sáng tạo của học sinh từ THCS, THPT thông qua phòng thí nghiệm học đường, câu lạc bộ khoa học, học bổng và môi trường nghiên cứu trung thực.


Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.