Có nên để hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là môn học riêng?

Bích Thanh
Bích Thanh

Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường phổ thông hiện nay, theo nhiều giáo viên, có điểm nghẽn về bản chất chương trình, đội ngũ giảng dạy, cách tổ chức, đánh giá…, nên cần phải có cách làm mới.

Hiện nay, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là một nội dung được vận hành như một môn học riêng lẻ, phân phối cố định 105 tiết trong mỗi năm học cấp THPT, tổ chức theo thời khóa biểu hàng tuần với 3 tiết/tuần.

Có nên để hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là môn học riêng? - Ảnh 1.

Học sinh tham gia hoạt động hướng nghiệp tại trường đại học

ẢNH: NGUYỄN TÂM

Giáo viên kiêm nhiệm, chương trình khó theo kịp thực tiễn

Vào đầu tháng 7, chủ trì cuộc họp triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sau buổi làm việc với ngành GD-ĐT, Phó thủ tướng Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ GD-ĐT sớm rà soát chương trình phổ thông, cắt giảm nội dung không cần thiết, tăng tính thực tiễn và phù hợp với bối cảnh công nghệ phát triển.

Trao đổi với phóng viên Thanh Niên về yêu cầu trên, nhiều ý kiến đặt vấn đề trong chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) hiện nay có nhất thiết để hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thành một nội dung được vận hành gần như một môn học riêng lẻ.

Hoạt động giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp giúp học sinh (HS) khám phá bản thân, rèn luyện kỹ năng sống, tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn và từng bước xác định con đường học tập, nghề nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay, theo các hiệu trưởng, hoạt động này còn nhiều vấn đề về bản chất chương trình, đội ngũ giáo viên (GV), cách tổ chức, đánh giá, tính giờ lao động, học liệu, kinh phí và khả năng cập nhật những biến đổi liên tục của đời sống nghề nghiệp.

Ghi nhận tại các trường THPT cho thấy ngay từ năm 2022, năm đầu tiên thực hiện Chương trình GDPT 2018 ở bậc THPT, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được tổ chức trong điều kiện không có GV chuyên trách, không có tổ bộ môn nên mỗi trường tự tổ chức lực lượng giảng dạy theo điều kiện thực tế. Hầu hết đều sử dụng GV chủ nhiệm, GV không đủ tiết nghĩa vụ để chịu trách nhiệm hoạt động giáo dục bắt buộc này.

GV một trường THPT thực hiện mô hình trường tiên tiến tại TP.HCM cho biết hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Đặc biệt, theo GV này, hướng nghiệp là lĩnh vực luôn vận động cùng thị trường lao động và sự phát triển của KH-CN nên cần mang hơi thở thời đại chứ không thể bị đóng kín trong sách vở và những tiết học cố định.

Nguy cơ HS chưa có được trải nghiệm, hướng nghiệp đúng nghĩa

Cũng theo các GV, nếu 105 tiết được chia cơ học thành 3 tiết mỗi tuần, nhà trường rất dễ rơi vào tình trạng phải tìm nội dung để lấp đầy thời lượng. Thiếu người có chuyên môn, thiếu kinh phí và thiếu điều kiện tổ chức ngoài nhà trường nên các trường chủ yếu cho HS ngồi tại lớp, mở sách giáo khoa, trình chiếu nội dung và yêu cầu hoàn thành phiếu học tập. Kết quả là nhà trường có thể đủ 105 tiết trên hồ sơ, nhưng HS chưa chắc có được 105 tiết trải nghiệm, hướng nghiệp đúng nghĩa.

Theo tổ trưởng tổ chuyên môn khoa học tự nhiên của một trường THPT, GV phổ thông hiện nay chủ yếu được đào tạo theo các chuyên ngành môn, trong khi đó tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp đòi hỏi một tổ hợp năng lực rất khác: thiết kế hoạt động, điều hành thảo luận, tổ chức dự án, tư vấn tâm lý, xử lý tình huống, kết nối cộng đồng, khai thác dữ liệu thị trường lao động và hỗ trợ HS ra quyết định nghề nghiệp.

"GV có năng lực tổ chức tốt có thể biến giờ học thành không gian sinh động, tạo cơ hội để HS thảo luận, hợp tác và giải quyết vấn đề. Ngược lại, khi GV chưa hiểu rõ đặc trưng của hoạt động hoặc chỉ được giao nhiệm vụ để đủ định mức, tiết học có thể bị tổ chức qua loa, trở thành giờ trống, giờ tự quản hoặc thậm chí được sử dụng để dạy bù môn học khác. Hướng nghiệp liên quan đến tâm lý lứa tuổi, năng lực cá nhân, thông tin đào tạo, nhu cầu nhân lực và những quyết định có ảnh hưởng lâu dài đến cuộc đời HS. Đây cần được xem là một lĩnh vực cần người có chuyên môn", vị tổ trưởng trên cho hay.

Còn ông Huỳnh Thanh Phú, Hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành, TP.HCM), cho rằng thực tế cho thấy nội dung giáo trình hiện nay khó theo kịp sự phát triển của xã hội. Điều HS cần là những thông tin cập nhật, câu chuyện nghề nghiệp thật, trải nghiệm thật, những buổi đối thoại với doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học và cựu HS. Đó mới là hướng nghiệp.

Một vấn đề khác là cấu trúc chương trình chưa thật sự phù hợp. Ba tiết mỗi tuần dành cho hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp tương đương số tiết của môn toán - môn học nền tảng trong giáo dục phổ thông. Bên cạnh đó, nhiều chủ đề được triển khai kéo dài khiến cả GV và HS đều khó duy trì sự hứng thú.

Có nên để hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là môn học riêng? - Ảnh 2.

Hướng nghiệp không nên chỉ trong lớp học mà phải diễn ra ở doanh nghiệp, trong trường đại học, tại các trung tâm nghiên cứu, trong các cuộc thi, dự án cộng đồng và cả những chuyến tham quan thực tế

ảnh: Nguyễn Tâm


Đề xuất các mô hình hoạt động giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp

Trong bối cảnh tuyển sinh ĐH ngày càng đa dạng, ngành nghề thay đổi từng năm, phương thức xét tuyển liên tục cập nhật, việc hướng nghiệp càng cần tính mở. Hướng nghiệp không nên chỉ trong lớp học mà phải diễn ra ở doanh nghiệp, trong trường đại học, tại các trung tâm nghiên cứu, trong các cuộc thi, dự án cộng đồng và cả những chuyến tham quan thực tế. Mỗi địa phương có điều kiện kinh tế khác nhau, mỗi trường có thế mạnh khác nhau, mỗi khóa HS cũng có nhu cầu khác nhau. Vì vậy, hiệu trưởng các trường THPT mong muốn hướng nghiệp cần được thiết kế linh hoạt để phù hợp với thực tiễn của từng nhà trường.

Theo ông Phú, đã đến lúc nên chuyển từ mô hình "một chương trình thống nhất cho tất cả" sang mô hình "nhà trường chủ động xây dựng kế hoạch hướng nghiệp". Bộ có thể ban hành khung định hướng, mục tiêu và chuẩn đầu ra; còn việc tổ chức sẽ do từng trường thiết kế dựa trên đặc điểm HS, điều kiện địa phương và nguồn lực xã hội. Khi đó, hướng nghiệp sẽ trở thành một chuỗi hoạt động sống động, luôn cập nhật và gắn chặt với nhu cầu thực tế thay vì giới hạn trong một giáo trình.

Hiệu trưởng Trường Bùi Thị Xuân đề xuất: "Có thể phân bổ 3 tiết hiện nay theo hướng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của HS. Một tiết dành cho sinh hoạt dưới cờ kết hợp giáo dục đạo đức, lý tưởng, văn hóa ứng xử và trách nhiệm công dân. Một tiết tăng cường cho môn toán, giúp hình thành tư duy logic, năng lực phân tích và giải quyết vấn đề. Một tiết tăng cường cho môn tiếng Anh".

Tương tự, có ý kiến cho rằng nên chuyển từ tư duy "dạy một môn hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp" sang "tổ chức một quá trình trải nghiệm và hướng nghiệp cho HS". Đưa nội dung trải nghiệm và hướng nghiệp tích hợp vào từng môn học, khi đó HS không chỉ được nghe giới thiệu nghề nghiệp khái quát mà còn hiểu được mối liên hệ giữa kiến thức đang học với môi trường lao động thực tế. Các em có điều kiện nhận ra mình yêu thích lĩnh vực nào, có năng lực ở đâu và cần tiếp tục phát triển những phẩm chất, kỹ năng nào.

Cách tổ chức này cũng khắc phục tình trạng một GV phải đảm nhiệm toàn bộ nội dung hướng nghiệp khi không thể am hiểu sâu tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp.

Tầm quan trọng của việc hướng nghiệp cho HS THPT

Hướng nghiệp cho HS THPT khi được chú trọng và đầu tư càng sớm, kết quả gặt hái sẽ tốt hơn. Hướng nghiệp đối với các HS cuối cấp là cực kỳ quan trọng, bởi ngoài việc giúp các em chọn đúng ngành học và định hướng nghề cho tương lai còn mang lại nhiều lợi ích cho chính doanh nghiệp và xã hội.

Đối với HS, hướng nghiệp ngay từ sớm sẽ giúp các em dễ dàng xác định lộ trình học tập; phát huy tối đa điểm mạnh và năng lực bản thân, tạo ra nhiều cơ hội thăng tiến trong học tập và công việc; tiết kiệm thời gian và tiền bạc để đầu tư đúng chỗ hơn; các em tự tin lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp lớp 12; dễ thành công trong tương lai do chọn đúng ngành nghề.

Đối với các doanh nghiệp, chất xám được đầu tư và khai thác hiệu quả trong từng ngách công việc, từng phòng ban trong công ty; tuyển dụng được nhiều lao động có năng lực và chuyên môn cao; tránh tình trạng thiếu hụt nhân lực và sự chênh lệch nhân lực giữa các ngành nghề; giảm thiểu tối đa tình trạng nghỉ việc do nhân viên cảm thấy công việc không phù hợp với bản thân…

Đối với xã hội, giúp cân bằng thị trường lao động tại VN, tránh được tình trạng khan hiếm hoặc thừa nhân lực trong các ngành nghề hot; nâng cao chất lượng cuộc sống...

Lê Thị Hiệp (Trường CĐ Sư phạm Trung ương)

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.