Từ áp lực giảm phát thải đến hệ sinh thái xanh
Trong tuần giữa tháng 9, các tổ chức khí hậu và môi trường công bố hàng loạt báo cáo đáng chú ý. Đơn cử, Cục Quản lý đại dương và khí quyển Mỹ (NOAA) công bố nhiệt độ nước biển ở bề mặt khu vực xích đạo trên Thái Bình Dương - Nino 3.4 đang cao hơn bình thường 2°C, các khu vực lân cận thậm chí còn cao hơn rất nhiều. Những cảnh báo cho thấy "siêu" El Nino tiếp tục gia tăng cường độ để trở thành sự kiện mạnh nhất lịch sử. Trong khi đó, tại châu Âu, Cơ quan Dịch vụ biến đổi khí hậu Copernicus (C3S) thừa nhận tháng 8.2026 là tháng 8 nóng nhất từng được ghi nhận trên toàn cầu với mức nhiệt kỷ lục là 16,96°C. Đây cũng là tháng có mức nhiệt cao kỷ lục từ trước tới nay.
Các thông tin trên cho thấy hành động quyết liệt, nhanh chóng cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính để làm chậm lại quá trình ấm lên toàn cầu ngày càng bức thiết.

Phát triển giao thông xanh gắn với năng lượng tái tạo là hướng đi quan trọng trong mục tiêu bảo vệ môi trường và Net Zero
ẢNH: NHẬT THỊNH
Tại Việt Nam, Net Zero không chỉ là khẩu hiệu mà đang trở thành hành động ở nhiều cấp độ, từ dự án bán tín chỉ rừng đến đề án trồng lúa phát thải thấp trên quy mô 1 triệu ha và các dự án năng lượng tái tạo, giao thông... Cột mốc đáng chú ý là sự ra đời của sàn giao dịch carbon vào ngày 29.6. Trong phiên mở hàng, sàn ghi nhận khối lượng giao dịch 400 tấn CO2e, tổng giá trị 54 triệu đồng; giá giao dịch gần nhất là 136.000 đồng một tấn. Đây không chỉ là một bước đi về chính sách mà còn là dấu mốc kinh tế khi lượng phát thải và quyền phát thải bắt đầu được đưa vào một cơ chế thị trường.
Trước đây, giảm phát thải thường được doanh nghiệp nhìn như một gánh nặng chi phí vì phải thay máy móc mới, tiết kiệm năng lượng, chuyển sang nhiên liệu sạch hơn, đầu tư hệ thống xử lý chất thải… Nhưng khi carbon được định giá, câu chuyện bắt đầu được nhìn nhận theo một cách khác: giảm phát thải có thể tạo ra giá trị. Nhiều doanh nghiệp không dừng lại ở việc cắt giảm lượng phát thải mà còn muốn đi xa hơn là tạo ra tín chỉ CO2e để tạo thêm nguồn thu.
PGS-TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn - ICED (ĐH Quốc gia TP.HCM), nhận định: Xét về quy mô của nền kinh tế và trình độ sản xuất của Việt Nam hiện tại, chúng ta có nhiều tiềm năng để tạo ra sản phẩm tín chỉ carbon. Thực tế, mặt bằng khoa học, công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam ở hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề còn tương đối thấp, đây là dư địa để có thể đầu tư phát triển và tạo ra tín chỉ. Về tự nhiên, Việt Nam sở hữu tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính trên nhiều lĩnh vực quan trọng như năng lượng, công nghiệp, nông - lâm nghiệp và chất thải. Những yếu tố này như "mỏ tài nguyên tín chỉ carbon" nếu chúng ta biết cách tận dụng và khai thác.
"Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn nhận tín chỉ carbon như một nguồn thu và sản phẩm phụ. Giá trị lớn nhất của nó không phải là tiền bán tín chỉ mà là cách chúng ta chứng minh với thị trường rằng sản phẩm của chúng ta xanh, sạch và không gây phát thải. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta nâng cao chất lượng và giá trị của các sản phẩm chính; qua đó thương hiệu của doanh nghiệp và rộng hơn là của cả nền kinh tế Việt Nam từng bước được nâng cao", TS Hồng Quân lưu ý.

Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc đẩy mạnh phát triển thị trường tín chỉ carbon
ẢNH: CHÍ NHÂN
Nhiều chuyên gia cũng khẳng định một dự án lâm, nông nghiệp phát thải thấp có thể tạo ra tín chỉ carbon nếu đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết. Một nhà máy sử dụng năng lượng tái tạo có thể cải thiện dấu chân carbon của sản phẩm. Một doanh nghiệp công nghệ có thể kiếm tiền từ việc đo đạc, kiểm kê, báo cáo và xác minh phát thải.
Net Zero tạo ra một không gian kinh tế mới với hàng loạt thành tố như sản phẩm, dịch vụ, giá trị và dòng chảy tín dụng mới.
Biến Net Zero thành không gian kinh tế mới
Tại một diễn đàn carbon gần đây, ông Trương Đồng Tâm, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Ngôi Sao Vàng - một doanh nghiệp hoạt động thu gom, xử lý chất thải để sản xuất nhiên liệu - cho biết doanh nghiệp của ông cũng muốn tăng nguồn thu từ việc tạo ra tín chỉ carbon. Thực tế, đây cũng là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp với loại hàng hóa mới nổi này. Ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ NN-MT), thông tin: để được cấp tín chỉ, một trong những yêu cầu quan trọng là đơn vị đó phải chứng minh được tính bổ sung của dự án. Ví dụ, dự án áp dụng công nghệ vượt mức thông thường hoặc tạo ra mức giảm phát thải mà nếu không có dự án thì khó có thể đạt được. Về tài chính, nguồn thu từ tín chỉ carbon có thể là yếu tố cần thiết để bảo đảm tính khả thi và duy trì hoạt động của dự án và nhiều tiêu chí liên quan khác. Vì vậy, không phải mọi hoạt động giảm phát thải đều có thể tạo tín chỉ carbon. Mặt khác, các tín chỉ được giao dịch trên sàn carbon gồm: tín chỉ được cấp tại Việt Nam, tín chỉ hình thành từ các cơ chế hợp tác theo điều 6 của Thỏa thuận Paris.
Ở chiều ngược lại, bà Phạm Liên Anh, chuyên gia của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), cho biết một số doanh nghiệp có thể đã triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng hoặc giảm phát thải phục vụ hoạt động sản xuất, nhưng chưa biết những kết quả này có thể gắn với việc phát triển dự án tín chỉ carbon, vì vậy đã bỏ lỡ nguồn doanh thu bổ sung. Bà Phạm Liên Anh lưu ý để tận dụng nguồn thu này một cách hiệu quả, trước hết doanh nghiệp phải biết mình phát thải bao nhiêu, nguồn phát thải chính nằm ở đâu và có khả năng đo lường, giám sát, báo cáo, thẩm định các số liệu này. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xác định giải pháp hoặc dự án nào có khả năng giảm phát thải và có thể phát triển thành tín chỉ carbon, tín chỉ tạo ra sẽ hướng tới thị trường nào (thị trường tự nguyện hay tuân thủ, thị trường trong nước hay quốc tế) theo điều 6 của Thỏa thuận Paris.
"Việc nhận diện đầy đủ lượng phát thải được cắt giảm vì thế có thể tạo ra thay đổi về cách tiếp cận, từ giảm phát thải để đáp ứng yêu cầu tuân thủ sang coi carbon là một yếu tố có thể tạo thêm giá trị cho hoạt động kinh doanh", chuyên gia của IFC nhấn mạnh.
Thực tế trước đây khi nói đến giảm phát thải, nhiều người thường nghĩ đến gánh nặng về chi phí tuân thủ, đặc biệt khi đặt trong bối cảnh đa số doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về quy mô và tài chính. Tuy nhiên hiện tại việc đầu tư nguồn lực để tuân thủ các quy định này đang tạo ra sức mạnh cạnh tranh. Việc Chính phủ cùng lúc đẩy mạnh thị trường carbon, tín dụng xanh, trái phiếu xanh sẽ tạo động lực lớn về tài chính xanh cho các mục tiêu giảm phát thải của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc tuân thủ hạn ngạch phát thải khí nhà kính hay đầu tư dự án tạo tín chỉ carbon mang lại nhiều lợi ích. Đặc biệt là việc giải trình tính hiệu quả của nguồn vốn (với cơ quan quản lý và các ngân hàng phát triển), từ đó mở rộng cơ hội thụ hưởng các chính sách hỗ trợ lãi suất từ Chính phủ. Từ góc đó, có thể thấy việc tuân thủ các quy định về phát thải không phải gánh nặng chi phí mà là cơ hội giúp doanh nghiệp củng cố năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu thời kỳ Net Zero.
"Việc Chính phủ ban hành danh mục phân loại xanh cũng đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho thị trường tài chính xanh trong nước. Khung này thiết lập tiêu chí môi trường thống nhất để xác định và sàng lọc các dự án đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn xanh, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi bền vững của các ngành trọng điểm tại", một chuyên gia nhận xét.
Bên cạnh đó, việc hình thành thị trường carbon có thể trở thành một kênh mới thúc đẩy phân bổ vốn trong nền kinh tế. Dòng vốn sẽ có thêm cơ sở để phân biệt giữa những doanh nghiệp có khả năng thích ứng với quá trình chuyển đổi và những doanh nghiệp có nguy cơ phải gánh thêm chi phí trong tương lai. Theo đó, những doanh nghiệp thích nghi sớm sẽ tiếp cận vốn tốt hơn và là cách kiểm soát chi phí hiệu quả. Vì vậy, doanh nghiệp nên xem tín chỉ carbon như một khả năng kết hợp doanh thu từ hoạt động kinh doanh. Tất nhiên, việc khai thác nguồn tài nguyên tín chỉ carbon đến đâu còn tùy thuộc vào các định hướng chính sách của nhà nước và tầm nhìn cụ thể của mỗi công ty.
Biến thách thức thành động lực
Bà Phạm Liên Anh cũng nhận định thời gian gần đây mức độ quan tâm của doanh nghiệp về việc giảm phát thải và tạo ra tín chỉ carbon đang tăng rõ rệt. Để đáp ứng nhu cầu này, Cục Biến đổi khí hậu và IFC cũng đang chuẩn bị sổ tay hướng dẫn nhằm cung cấp các chỉ dẫn thực tiễn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để thị trường carbon trong nước có thể phát triển mạnh còn phụ thuộc vào việc hoàn thiện các tiêu chuẩn carbon trong nước, quy trình chứng nhận đủ thuận lợi và doanh nghiệp hiểu rõ cách thực hiện.
PGS-TS Nguyễn Hồng Quân nhìn nhận về mặt lý thuyết, chúng ta thấy rằng Việt Nam có nhiều cơ hội, tiềm năng trong mục tiêu chuyển đổi xanh; thêm vào đó, đây là xu thế bắt buộc của sự phát triển và cơ hội không dành cho những người chậm chân. Tuy nhiên, thực tế cũng cần thẳng thắn nhìn nhận chuyển đổi xanh với mục tiêu rất cao Net Zero là điều thật sự không dễ dàng, đòi hỏi rất nhiều thứ đặc biệt về vốn và công nghệ cũng như sự kết nối thị trường toàn cầu. Do vậy, chỉ có những doanh nghiệp, tập đoàn lớn mới có đủ nguồn lực thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi này. Trong khi đó, Việt Nam phần đông là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hằng ngày đã phải nỗ lực rất nhiều trong sản xuất và tìm kiếm khách hàng. Chính vì vậy, chuyển đổi xanh dù là xu hướng hay động lực nhưng với đối tượng này có phần trở thành gánh nặng trong việc tuân thủ.
"Tuy nhiên, may mắn của chúng ta là trong chiến lược vươn mình trong kỷ nguyên xanh, Đảng đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là một chương trình hành động trụ cột thông qua Nghị quyết 57", ông Nguyễn Hồng Quân nhấn mạnh và giải thích Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị mới dừng lại thượng tầng kiến trúc, chúng ta cần đẩy mạnh triển khai vào thực tế cuộc sống một cách hiệu quả. Có một điều tích cực là khi chúng ta hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, vì mục tiêu môi trường chung cho toàn nhân loại nên không lo vấp phải các vấn đề liên quan đến bảo hộ sản xuất.
Có một bài học rất hay ở Hàn Quốc, họ hỗ trợ thông qua việc đào tạo rất nhiều chuyên gia, thành lập các trung tâm cũng như chương trình tư vấn chuyển đổi để hỗ trợ các doanh nghiệp theo từng ngành nghề, lĩnh vực. Đặc biệt các chương trình hỗ trợ chuyển đổi từ công nghệ đến tài chính hoàn toàn miễn phí. Điều này cũng tránh được rủi ro về sau liên quan đến các vấn đề bảo hộ sản xuất. Bên cạnh đó, Hàn Quốc không hỗ trợ đại trà mà thông qua mô hình "sếu đầu đàn". Các doanh nghiệp tập đoàn lớn có nhiệm vụ hỗ trợ chuyển đổi cho 5 - 10 doanh nghiệp vừa, một doanh nghiệp vừa sẽ kèm theo 3 - 5 doanh nghiệp nhỏ. Điều đó tạo thành một hệ sinh thái trong từng ngành nghề và lĩnh vực, mặt khác cũng tạo thành chuỗi giá trị trong hoạt động sản xuất.
"Thời gian gần đây, ở TP.HCM và các bộ, ngành cũng có một vài chương trình hỗ trợ, song về cơ bản vẫn còn mỏng và yếu. Chúng ta cần hành động nhanh với nhiều mô hình cũng như chương trình tư vấn hỗ trợ chuyển đổi hiệu quả, có như vậy doanh nghiệp mới dám mạnh dạn tham gia", PGS Nguyễn Hồng Quân khuyến nghị.
Chuyển đổi xanh là lĩnh vực phức tạp và đa ngành nên cần có sự tham gia, phối hợp tích cực giữa các bộ, ngành. Đối với doanh nghiệp, trong thời đại toàn cầu và xu hướng xanh hóa hiện nay đòi hỏi những người lãnh đạo cần có tầm nhìn mang tính chiến lược, chủ động và quyết liệt trong hành động để nắm bắt cơ hội của người tiên phong.
PGS-TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn - ICED (ĐH Quốc gia TP.HCM)
Việt Nam hiện tại đã có hàng trăm dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) được cấp tín chỉ. Một số dự án đang chuyển đổi sang cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris. Ngoài ra, Việt Nam có hơn 10 dự án theo Cơ chế tín chỉ chung (JCM) và nhiều dự án theo các tiêu chuẩn carbon khác. Sự phát triển của các dự án carbon cũng mở ra nhu cầu đối với các tổ chức thẩm định. Hiện có khoảng 30 tổ chức đáp ứng yêu cầu về chứng nhận, xác nhận giá trị sử dụng theo quy định. Đây là một trong những mắt xích cần thiết, bởi lượng giảm phát thải phải được đo lường, thẩm định và chứng nhận trước khi có thể trở thành tín chỉ giao dịch trên thị trường.
Cục Biến đổi khí hậu










Bình luận (0)