Từ mùa hoa tràm đến mùa ong
Thiên nhiên đã dành cho Cà Mau hệ sinh thái rừng ngập lợ đặc trưng: rừng tràm U Minh Hạ. Nơi cây, tràm phủ kín không gian và nuôi dưỡng một chuỗi sinh tồn phong phú của khỉ, nai, heo rừng, trăn, rắn, kỳ đà. Khi tràm nở hoa, rừng bước vào một gác kèo ong.

Rừng tràm U Minh Hạ diện tích khoảng 35.000 ha, với sới sản lượng mật ong ước tính gần 1.000 tấn mỗi năm
ẢNH: G.B
Rừng U Minh Hạ có diện tích khoảng 35.000 ha, trong đó hơn 8.500 ha thuộc Vườn quốc gia U Minh Hạ, với sản lượng mật ong ước tính gần 1.000 tấn mỗi năm; trong đó người dân khai thác được vài trăm tấn, chủ yếu từ nghề gác kèo ong.
Từ tháng giêng đến tháng 5 âm lịch là thời điểm thích hợp nhất để gác kèo, khi hoa tràm nở rộ và thời tiết vào mùa khô, chất lượng mật rất tốt. Mỗi tổ ong gác kèo có thể thu hoạch khoảng 6 lần trong năm, trung bình 3 - 4 lít mỗi lần, cá biệt có tổ cho đến 10 lít mật.

Khi hoa tràm trổ bông là báo hiệu mùa mật ong chính vụ
ẢNH: G.B
Nghề gác kèo ong đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Nghề theo chân cư dân từ thời khẩn hoang mở đất, từ khi con người chỉ biết tìm mật trong tự nhiên đến lúc kinh nghiệm dân gian hình thành phương thức dẫn dụ ong về xây tổ. Từ "đi tìm ong", người dân chuyển sang "mời ong về".

Mật ong mật hiện có giá từ 600.000 - 800.000 đồng/lít, tùy chất lượng
ẢNH: G.B
Ông Nguyễn Minh Em, thợ gác kèo lâu năm ở xã U Minh Hạ, chia sẻ: "Cứ thấy tràm trổ bông là biết sắp vô mùa ong. Người trong rừng nhìn bông tràm như nhìn lịch vậy, năm nào bông nở dày là ai cũng mừng".
Nghề của kinh nghiệm, ánh sáng và mặt nước
Gác kèo ong không phải công việc ngẫu hứng. Đó là nghề của kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng: chẻ kèo, đẽo kèo, chọn trảng, chọn luồng, dựng nống, tủ chà giữ kèo đứng vững. Trong tất cả các khâu, chọn trảng là yếu tố quyết định.

Cây gác kèo ong phải cây thẳng, không cong vênh
ẢNH: G.B
Trảng phải có sậy thấp hơn ngọn tràm, có khoảng trống đủ rộng để ánh sáng rọi xuống mặt nước. Ánh nắng phản chiếu từ mặt nước phản chiếu đều vào tấm kèo để ong định hướng bay đi lấy mật và quay về xây tổ. Chỉ cần một chi tiết sai lệch, cả mùa ong có thể thất bại.
"Mỗi năm chỉ cần chọn sai trảng là coi như mất trắng. Ong khó tính lắm, không phải cứ gác kèo là có mật. Nhìn trảng phải bằng kinh nghiệm", chị Quách Kim Y, một trong số ít phụ nữ gác kèo ong ở rừng U Minh Hạ, chia sẻ.
Những người thợ lành nghề có thể đạt tỷ lệ ong về làm tổ trên 80% số kèo đã gác. Nhưng ong cũng có "tính cách": ong tơ không kén kèo, ong lớn lại rất kén kèo và kén trảng. "Người mới vô nghề thường nóng ruột, thấy chỗ nào trống là gác. Còn người có nghề phải đi coi nước, coi gió, coi ánh nắng rồi mới dám đặt kèo", chị Y nói thêm.

Chị Quách Kim Y, người phụ nữ hiếm hoi ở rừng U Minh Hạ làm nghề gác kèo ong
ẢNH: G.B
Kinh nghiệm dân gian đúc kết thành quy luật giản dị, năm gió lớn ong xuống kèo thấp, năm gió nhỏ ong xuống kèo cao. Những quan sát ấy không có trong sách vở nhưng được truyền miệng như một dạng "tri thức rừng".
Khoảng tháng 10 âm lịch, khi mùa ong hạn bắt đầu, thợ gác kèo vào rừng sửa kèo, dọn trảng, cắt tàn ong cũ, cạo sáp chuẩn bị đón đàn ong mới. Sau 20 - 25 ngày, khi bông tràm chuyển sang màu cỏ úa, tổ ong đã đầy mật. Đó là lúc họ cơm nước, khăn gói vào rừng để "ăn ong".
Để lấy mật, người thợ cắt rễ cây gừa đập nhuyễn, phơi khô bó thành đuốc hun khói, thứ khói ong rất kỵ. Về sau, cách này được thay bằng bình hun khói để đảm bảo an toàn. Khi ong bay ra, thợ dùng dao cắt phần "cục mứt", phần chứa nhiều mật nhất, đồng thời chừa lại một phần tổ để ong tiếp tục xây dựng. Mỗi tổ có thể khai thác 3 - 4 lần trước khi đàn ong rời đi.

Thợ cắt rễ cây gừa đập nhuyễn, phơi khô bó thành đuốc hun khói, thứ khói ong rất kỵ
ẢNH:G.B
"Hồi xưa đi ăn ong là chuyện lớn trong nhà. Mật để dành làm thuốc, làm bánh; ong non thì nấu cháo, làm gỏi, làm mắm. Còn sáp ong dùng làm đèn cầy thắp sáng", ông Trần Văn Nhì (66 tuổi, ngụ xã Nguyễn Phích) người có hơn 50 năm làm nghề gác kèo ong nhớ lại.
Nhờ nỗ lực không ngừng và kinh nghiệm phong phú, với 13,5 ha rừng, mỗi năm, ông Nhì thu hoạch khoảng 600 lít mật, thu nhập hơn 300 triệu đồng. Kết hợp với các nguồn thu khác, tổng thu nhập gia đình ông hơn 500 triệu đồng/năm.
Phong ngạn - "luật rừng" của người gác kèo ong
Thợ ăn ong, chỉ cần nhìn ong bay qua là đoán được tổ lớn nhỏ ra sao. Vì ong đi ăn theo chiều gió, người ăn ong cũng dựa hướng gió mà lần dấu, nên cách gọi "phong ngạn" dành cho dân ăn ong cũng bắt nguồn từ đó. Điều đặc biệt của nghề gác kèo ong không chỉ ở kỹ thuật mà còn ở hệ quy ước cộng đồng tồn tại tự phát từ lâu đời, các tập đoàn phong ngạn cũng ra đời.

Thợ ăn ong, chỉ cần nhìn ong bay qua là đoán được tổ lớn nhỏ ra sao
ẢNH: G.B
Mỗi tập đoàn phong ngạn quản lý một phần rừng, không xâm phạm địa bàn của nhau, thường gồm 15 - 30 người là dòng họ hoặc cư dân cùng thôn xóm. Người gác kèo phải đăng ký ký hiệu và khắc dấu lên từng cây kèo. Ăn trộm kèo ong bị xem là vi phạm nghiêm trọng, người vi phạm sẽ bị xóa tên khỏi tập đoàn và số kèo còn lại trở thành tài sản chung.

Theo ông Trần Văn Nhì, "luật của nghề ăn" ong không giấy tờ nhưng ai cũng phải giữ
ẢNH: G.B
"Luật không giấy tờ nhưng ai cũng giữ. Mất uy tín là không còn chỗ đứng trong nghề. Người trong nghề tin nhau bằng chữ tín", ông Nhì khẳng định.
Hoa tràm nở, ong vẫn về
Qua nhiều thế hệ, gác kèo ong trở thành nghề truyền đời, gắn với lịch sử khai hoang, sinh kế và ký ức cộng đồng cư dân rừng tràm U Minh Hạ. Nghề này được Bộ VH-TT-DL công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2020, mật ong U Minh được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xếp vào top 100 quà tặng du lịch năm 2021.
Hiện, mật ong ong mật có giá từ 600.000 - 800.000 đồng/lít tùy chất lượng, còn mật ong ruồi dao động khoảng 1,5 - 1,6 triệu đồng/lít.

Nghề gác kèo ong phụ thuộc rừng tràm bản địa và mùa hoa tự nhiên. Phần lớn diện tích rừng U Minh Hạ chuyển sang trồng rừng kinh tế, khiến nghề đứng trước nguy cơ mai một
ẢNH: G.B
"Nghề gác kèo ong tồn tại nhờ rừng tràm bản địa và mùa hoa tự nhiên. Khi phần lớn diện tích rừng của U Minh Hạ chuyển sang trồng tràm Úc, keo lai theo hướng kinh tế, không gian sinh thái của ong bị thu hẹp, kéo theo nguy cơ mai một nghề truyền thống", ông Nguyễn Minh Em lo lắng.
Còn ông Nhì hy vọng: "Nghề này không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức của cả vùng đất. Chỉ cần còn người chịu học nghề, còn người chịu giữ kèo, thì mùa ong vẫn còn quay lại".
Câu chuyện gác kèo ong hôm nay vì thế không chỉ là câu chuyện về mật, mà là hành trình giữ gìn bản sắc vùng đất U Minh Hạ. Mỗi mùa hoa tràm nở, ong vẫn trở về và hy vọng nghề vẫn được thắp sáng nếu còn những người muốn học, muốn giữ và muốn kể tiếp câu chuyện của nghề...
Bình luận (0)