So với nhiều nơi trong cả nước, hiếm địa phương nào từng sản xuất nhiều than củi như Cà Mau. Theo tài liệu lưu trữ, trước năm 1945, toàn tỉnh đã có trên 700 lò hầm than, con số cho thấy quy mô đặc biệt của một nghề gắn chặt với cư dân lâm phần.

Lò hầm than của HTX 2.9, nghề trăm năm đỏ lửa giữa rừng ngập mặn
ẢNH: G.B
Cuối năm 1954 và đầu năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm từng cho người xuống tận Cà Mau khai thác than đước, xây lò than và đến năm 1959 sản xuất được 60.000 tấn than. Sau năm 1975, dấu tích những lò than ấy vẫn còn rải rác giữa rừng ngập mặn như lớp trầm tích lịch sử chưa phai.
Những con số không chỉ nói về sản lượng. Đó là một giai đoạn mà than củi từng là nguồn nhiên liệu thiết yếu, là nhịp thở kinh tế của địa phương. Bởi lẽ tỉnh Cà Mau có hơn 50.000 ha rừng ngập mặn, trong đó chủ yếu là cây đước. Loài cây này là nguồn nguyên liệu dồi dào để phát triển nghề sản hầm than.

Khoảnh khắc giữ lửa cho nghề trăm năm giữa rừng ngập mặn Cà Mau
ẢNH: G.B
Ông Lê Văn Hồng (78 tuổi, xã Năm Căn) nhớ lại: "Hồi nhỏ, tôi theo cha vô rừng canh lò. Ban đêm đỏ lửa sáng cả một vùng. Nhìn khói, nghe tiếng lửa nổ là biết than đang chín tới đâu".
Hầm than, nghề "đọc khói"
Với cư dân các lâm phần Cà Mau, hầm than từng là kế sinh nhai truyền thống. Than không chỉ phục vụ chất đốt tại chỗ mà còn đưa đi nhiều tỉnh, trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình.

Nguyên liệu hầm than là cây đước vì cho than chắc, ít khói, cháy lâu
ẢNH: G.B

Gỗ hầm than phải tươi
ẢNH: G.B

Gỗ phải mới đốn, cắt đúng quy cách trước khi đưa vào lò
ẢNH: G.B
Nguyên liệu chủ yếu là các nhóm cây rừng ngập mặn và ngập lợ, trong đó đước được ưa chuộng nhất vì cho than chắc, ít khói, cháy lâu. Ngoài ra còn có vẹt, dà, cóc, tràm. Gỗ phải mới đốn, còn tươi, cắt đúng quy cách trước khi đưa vào lò.
Chi tiết tưởng nhỏ nhưng quyết định chất lượng đó là gỗ càng tươi, xếp càng chặt, than càng chín đều.
Bà Nguyễn Thị Bé, hơn 20 năm theo nghề nói: "Nghề này cực nhưng sống được. Một lò than chín là có tiền lo gạo, lo học cho con, mua sắm trong nhà. Nhưng phải canh lửa suốt ngày đêm, sơ suất một chút là hư cả lò".
Gần một thế kỷ qua, cách hầm than gần như không thay đổi. Có hai mô hình chính, hầm không lò cố định và lò gạch xây sẵn.

Những lò hầm than xây gạch kiên cố, dáng bầu như chiếc nón úp, cao khoảng 4 m, đường kính 5 - 7 m, có thể chứa tới 50 m³ gỗ; bình quân mỗi m³ gỗ đước cho ra 180 - 200 kg than
ẢNH: G.B
Với lò không cố định, củi được xếp trên mặt đất hoặc đào âm xuống 3 - 4 tấc tạo chân lò kín hơi. Cỏ rác phủ quanh khối củi để tránh bùn dính và tạo độ thoáng. Sau đó bùn nhão ven sông được đắp kín, chỉ chừa cửa lò và lỗ khói. Thời gian đốt từ 24 - 48 giờ, tùy quy mô. "Hầm than lò đất, người có kinh nghiệm chỉ cần nhìn màu khói, ngửi mùi là biết lò đạt hay chưa", bà bé chia sẻ.
Với lò gạch, quy mô lớn và ổn định hơn. Củi xếp thẳng đứng hoặc nằm ngang, xoay đầu to nhỏ cho khít. Một lò gạch đường kính khoảng 4 m phải đốt suốt 10 ngày đêm. Khi than chín, tất cả cửa lò, lỗ khói được bịt kín để ngăn ô xy, lửa tắt dần và than nguội tự nhiên trước khi thu hoạch.

Giá than đước trung bình 10.000 - 14.000 đồng/kg tùy chất lượng than
ẢNH: G.B
Ông Hồng gọi đó là nghề "đọc khói": "Nhìn khói trắng, khói xanh, nghe mùi khét hay thơm là biết lò sống hay chết".
Lửa lùi lại, nhưng chưa tắt
Ngày nay, khi bếp gas, bếp điện, bếp từ phổ biến, diện tích rừng suy giảm và yêu cầu bảo vệ rừng ngày càng nghiêm ngặt, những lò than đỏ lửa suốt ngày đêm đã thưa dần giữa rừng ngập mặn.

Các HTX vẫn duy trì sản xuất, dù thiếu nguyên liệu, đến tháng 4 - 5 để tham gia đấu giá mua nguyên liệu khi các chủ rừng khai thác
ẢNH: G.B
Một cán bộ văn hóa xã Năm Căn, nhìn nhận: "Bảo tồn không có nghĩa là khai thác rừng bừa bãi, mà là lưu giữ tri thức – từ cách chọn gỗ, xếp củi, canh lửa đến văn hóa lao động gắn với rừng". Thực tế, nghề hầm than ở Cà Mau không hề biến mất, mà đang thích ứng để tồn tại.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc HTX chế biến than 2.9 (xã Tam Giang), có 20 năm theo nghề, cho biết HTX hiện có 16 xã viên, gần 40 nhân công, thu nhập bình quân 5 - 7 triệu đồng/người/tháng. "Khác với lò đất ngày xưa, nay HTX xây gạch kiên cố, cao khoảng 4 m, đường kính 5 - 7 m, hình bầu như chiếc nón úp. Gia đình tôi có 2 lò, mỗi tháng lãi khoảng 25 triệu đồng", ông Bình nói.

Củi khi chất vào lò phải khít nhau đảm bảo khi cháy mới đều và than ít bị bể
ẢNH: G.B
Tại xã Tân Ân, ông Lê Phước Thân, Giám đốc HTX chế biến than Tân Phát, cho biết đơn vị đang vận hành 21 lò hầm than, mỗi năm sản xuất khoảng 800 tấn than đước, tạo việc làm cho 15 lao động với thu nhập 6 - 9 triệu đồng/người/tháng. Dù năm nay nguồn nguyên liệu gặp khó do giá cây tươi tăng cao và khan hiếm, HTX vẫn duy trì sản xuất, chờ đến đợt khai thác rừng của các đơn vị chủ rừng vào khoảng tháng 4 - 5 để tham gia đấu giá mua nguyên liệu.

Năm 2017, UBND tỉnh Cà Mau đưa nghề hầm than vào danh mục 40 di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh
ẢNH: G.B
Việc UBND tỉnh Cà Mau đưa nghề hầm than vào danh mục 40 di sản văn hóa phi vật thể từ năm 2017 cũng cho thấy nghề này không bị lãng quên. Trong khuôn khổ quản lý chặt chẽ và bảo vệ rừng, những lò than vẫn đỏ lửa như cách để nghề truyền thống tiếp tục tồn tại giữa nhịp sống mới. Hiện tỉnh có hơn 10 cơ sở, hợp tác xã chế biến than đước hoạt động, mỗi năm cho ra thị trường hàng trăm tấn sản phẩm.
Giữa rừng ngập mặn Cà Mau, nghề hầm than từng có hơn 700 lò đỏ lửa, từng sản xuất 60.000 tấn than trong một năm và nuôi sống bao thế hệ. Hôm nay, lửa có thể thưa dần, nhưng ký ức "đọc khói" vẫn là một phần lịch sử đất Mũi.
Bình luận (0)