Sách này do Phát Toàn, Librairie - Imprimeur, 55 - 57 - 59 đường Ormay (Sài Gòn, nay là đường Mạc Thị Bưởi) in tháng 10.1910. Sách in khổ 13x21, 56 trang. Tác giả có nêu rõ mục đích của mình trong lời Tựa (chúng tôi xin trích nguyên văn kể cả lỗi chính tả, để thấy được văn phong thời đó):
"Từng nghe: Nghĩa lý trong thiên hạ thì rất rộng, mà điều thấy biết của trẻ con thì có chừng; nếu dạy vượt đến chỗ cao xa, ắt nó không hiểu chi cả.

Mông học thê giai của nhà giáo Nguyễn An Khương - một trong những sách giáo khoa quen thuộc với học sinh Nam kỳ
ẢNH: TƯ LIỆU LÊ MINH QUỐC
Tôi đã thấy điều ấy rồi, cho nên mới góp các sách tập đọc bên phương Tây và mót những lời thánh nhơn để lại, lấy đều (sic) đức dục, trí dục và thể dục làm ba mối lớn mà đặt sách này, gọi là sách Mông học thê giai, đặng cho các học trò nhỏ bắt chước theo đây, thì ngày sau trở nên người tốt cũng dễ. Ấy cũng là một đều giúp cho chúng nó lên chỗ cao xa vậy" (tr.4).
Ở cuối mỗi bài học, đều in nghiêng những lời răn dạy - như tóm tắt nội dung của từng bài. Chẳng, hạn đây là bài học thứ 51, có tựa Thằng Học: "Thằng Học mới có năm tuổi, cha nó buôn bán nơi xa, mẹ nó làm thơ gởi thăm, nó coi một hồi rồi cũng lấy viết lấy giấy vẽ bậy vẽ bạ, trao cho mẹ nó mà rằng: "Xin mẹ gởi luôn thơ này cho cha tôi". Mẹ nó cười rằng: "Con viết như vậy, cha con đọc không đặng đâu". Thằng Học hỏi: "Vậy chớ viết làm sao cho cha tôi đọc đặng". Mẹ nó nói: "Nếu con muốn viết cho cha con đọc đặng, thì phải đi học đã, rồi sau sẽ viết". Thằng Học hỏi: "Đi học tại đâu?". Mẹ nó nói: "Tại trường học là chỗ hôm trước con thấy học trò đương học om sòm đó". Thằng Học nói: "Vậy thì để mai xin mẹ dậy sớm, dắt con đến đó cho con học". Mẹ nó rất mầng. Rạng ngày dắt con tới trường mà cho học.
Đứa con nít mới có năm tuổi mà biết ham học, đặng có gởi thơ cho cha, mấy đứa lớn tuổi hơn nó phải gắng chí học hành, mới biết chữ mà gởi thơ cho cha mẹ cùng thân bằng cố hữu; nếu để dốt nát, cậy mượn người ta ắt bị chúng chê cười, mà lại người viết thơ đó hiểu rõ tâm sự của mình nữa. Ấy cũng là một điều hại lớn".
Qua một vài tài liệu ít ỏi trên, ta có thể nhận thấy cách biên soạn sách giáo khoa thuở ấy, theo năm tháng đã có những thay đổi đáng kể nhất là về phương pháp biên soạn. Từ chỗ chỉ trích giải thích về luân lý, đạo đức, các nhà giáo dần dần lồng nó vào một mẩu chuyện ngắn để học trò dễ nhớ và cũng dễ tiếp thu hơn. Có lẽ, sau này khi biên soạn Quốc văn giáo khoa thư (do Nha học chính Đông Pháp xuất bản) nhóm tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận cũng biên soạn theo hướng trên. Nghĩa là bài tập đọc dành cho học sinh được viết ngắn gọn, dễ hiểu và mẩu chuyện trong sách thỉnh thoảng nhân vật có đối đáp qua lại để nêu rõ ý nghĩa giáo dục. Và không thể phủ nhận rằng những mẩu chuyện như thế đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ học sinh. Nhiều người đến nay đầu đã bạc mà vẫn còn nhớ những bài học trong Quốc văn giáo khoa thư là một minh chứng.
Theo chương trình Pháp - Việt, các học trò học môn chữ Nho như thế nào?
Ngày 21.12.1917, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành "Quy chế chung về ngành giáo dục ở Đông Dương", trong đó việc dạy môn chữ Nho trong các trường công của bậc Tiểu học Pháp - Việt được quy định như sau: Đối với các lớp sơ đẳng Tiểu học không toàn cấp: chữ Nho không phải là môn học bắt buộc. Trường nào muốn dạy thì phải có sự thỏa thuận của phụ huynh học sinh, Hội đồng kỳ mục xã và Hiệu trưởng. Thầy đồ mỗi tuần chỉ được dạy một tiếng rưỡi đồng hồ được ấn định vào sáng thứ năm. "Nhất cử nhất động" của thầy đồ trong giờ giảng dạy đều được giám sát chặt chẽ và đó cũng là thời gian mà Hiệu trưởng không được vắng mặt tại trường. Tuy nhiên, học trò muốn học hay không cũng tùy ý. Đối với trường Tiểu học toàn cấp (tức trường mở đủ các lớp từ Dự bị, Sơ đẳng, Trung đẳng đến Cao đẳng tiểu học) thì phải được Thống đốc tham khảo ý kiến của Hội đồng hàng tỉnh mới chấp thuận cho dạy hoặc không.

Tôi đi học - một bài học thuộc lòng tiêu biểu của các thế hệ học trò đầu thế kỷ 20
ẢNH: TƯ LIỆU LÊ MINH QUỐC
Căn cứ vào quyển sách giáo khoa Hán tự quy giản dày 60 trang, khổ 13x19 cm của thầy Hồ Ngọc Cẩn, ta có thể biết đôi điều cách học chữ Nho thuở ấy. Mà trước hết xin nói một điều thú vị là sách này, ngoài bìa ghi rõ "Hong Kong - Imprimerie de la Société (société) des Missions (Mission-) Etrangères". Điều này không lạ, theo Việt Nam văn học sử yếu của cụ Dương Quảng Hàm, thời đó sách viết bằng chữ Quốc ngữ đã được in không chỉ ở Hồng Kông, mà còn ở La Mã, Bengal (Ấn Độ) hoặc ở Bangkok (sđd - tr.352 - NXB Đồng Tháp tái bản 1993).
Trong lời Tựa, tác giả cho biết "mượn ít nhiều trong sách thầy Prémare và thầy Chouzy cùng thêm một ít điều khác mà dọn ra quyển Mẹo này, để giúp những kẻ biết tiếng Latinh hay tiếng Langsa, đặng theo đó mà học chữ Nho cho dễ" và kết luận: "Vậy nên học trò phải học cho rõ ràng ý tứ mấy chữ ấy để hiểu sách cho nhằm và đặt bài cho trúng theo phép chữ Nho" (tr.3). Sách biên soạn dễ hiểu, ta thấy tiếng Pháp được dùng để giải thích chữ Nho. Chẳng hạn, "Chữ Nho cũng có Article như trong tiếng Langsa và tiếng Annam. Tiếng Annam quen kêu con nọ, sự kia, cái này, điều khác... đó là Article. Article đặt trước như Le, La, Les trong tiếng Langsa; những chữ con, cái… trong tiếng Annam thì trong chữ Nho quen dùng 3 chữ này kỳ, chi, giả"…
Còn học môn toán thì sao? (còn tiếp)
Bình luận (0)