Doanh nghiệp có thể chấp nhận thua đối thủ vì sản phẩm chưa tốt, giá thành chưa cạnh tranh hoặc năng lực quản trị còn hạn chế. Nhưng sẽ khó chấp nhận nếu lợi thế kinh doanh lại đến từ những mối quan hệ có khả năng tác động đến việc phân bổ nguồn lực hay quyết định của cơ quan công quyền.
Bởi điều làm nên sức sống của thị trường chính là niềm tin rằng mọi doanh nghiệp đều có cơ hội cạnh tranh công bằng, bất kể người đứng đầu là ai.
Từ góc nhìn ấy, chủ trương chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh, làm giàu chính đáng, được Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV thống nhất vừa qua, mở ra một vấn đề đáng suy ngẫm. Làm thế nào để khơi dậy năng lực kinh doanh trong đội ngũ đảng viên, đồng thời bảo đảm sự khuyến khích ấy không vô tình tạo ra những lợi thế mà các doanh nhân khác không có?
Trước hết, cần nhìn nhận rằng khát vọng làm giàu bằng lao động, trí tuệ và sự sáng tạo là nhu cầu chính đáng của con người. Người có khả năng tổ chức sản xuất, quản trị doanh nghiệp hay phát triển công nghệ cần được tạo điều kiện phát huy năng lực, bất kể họ có phải là đảng viên hay không.
Khi vốn liếng được đưa vào sản xuất, những ý tưởng kinh doanh trở thành sản phẩm, dịch vụ và tạo thêm việc làm, lợi ích thu được đã vượt khỏi phạm vi của cá nhân người đầu tư.

Khi vốn liếng được đưa vào sản xuất, những ý tưởng kinh doanh trở thành sản phẩm, dịch vụ và tạo thêm việc làm, lợi ích thu được đã vượt khỏi phạm vi của cá nhân người đầu tư
ẢNH: TUẤN MINH
Tinh thần ấy cũng phù hợp với Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó nhấn mạnh việc xóa bỏ định kiến, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng.
Tuy nhiên, để những thay đổi trong nhận thức thực sự mang lại hiệu quả, điều quan trọng hơn là tạo dựng một môi trường mà mọi chủ thể có năng lực đều có thể phát triển bằng chính năng lực của mình.
Hãy nhìn từ những khó khăn rất thực tế của doanh nghiệp. Một dự án đầu tư có thể mất cơ hội vì thủ tục kéo dài. Một doanh nghiệp nhỏ có sản phẩm tốt vẫn có thể gặp trở ngại khi tiếp cận vốn, đất đai hoặc thông tin về những chương trình hỗ trợ.
Những vướng mắc ấy cần được tháo gỡ bằng cải cách thể chế, công khai quy trình và nâng cao trách nhiệm phục vụ của bộ máy công quyền, thay vì dựa vào khả năng kết nối hay vị thế của từng doanh nhân.
Vì vậy, khuyến khích đảng viên làm kinh tế phải được đặt trong yêu cầu lớn hơn là cải thiện môi trường kinh doanh cho toàn xã hội. Khi thủ tục minh bạch, điều kiện tiếp cận nguồn lực rõ ràng và cơ chế cạnh tranh công bằng, người có năng lực sẽ có cơ hội vươn lên mà không cần tìm kiếm lợi thế từ những quan hệ ngoài thị trường. Đây cũng là điều kiện để những đảng viên thực sự có tinh thần tiên phong khẳng định khả năng bằng hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Tất nhiên, vấn đề sẽ phức tạp hơn đối với đảng viên đang giữ chức vụ, quyền hạn trong khu vực công. Quyền tham gia đầu tư, kinh doanh của họ phải được xem xét cùng những giới hạn pháp luật và trách nhiệm gắn với vị trí công tác.
Ranh giới giữa hoạt động kinh tế hợp pháp với việc tận dụng quyền lực, thông tin nội bộ hoặc tài sản công để phục vụ lợi ích riêng cần được xác định cụ thể, có khả năng kiểm tra và giám sát.
Đặc biệt, cần quan tâm đến trường hợp người có chức vụ không trực tiếp đứng tên kinh doanh nhưng có thể chi phối hoạt động doanh nghiệp thông qua người thân hoặc những chủ thể liên quan.
Nếu chỉ quản lý dựa trên tên người đăng ký sở hữu mà thiếu cơ chế xác định người thực sự kiểm soát, hưởng lợi, việc phòng ngừa xung đột lợi ích khó đạt hiệu quả. Đây cũng chính là một trong những yêu cầu được đặt ra khi Trung ương thảo luận về quy định mới.
Song, kiểm soát chặt chẽ không có nghĩa là nhìn mọi đảng viên tham gia kinh doanh bằng ánh mắt nghi ngại. Người đầu tư hợp pháp cần được bảo vệ quyền lợi, được đối xử công bằng và có cơ hội chứng minh năng lực.
Một cơ chế quá nhiều rào cản có thể làm nản lòng người muốn khởi nghiệp, trong khi những kẽ hở trong giám sát lại có nguy cơ bị lợi dụng. Bởi vậy, quy định càng rõ ràng, trách nhiệm giải trình càng cụ thể thì càng có điều kiện bảo vệ người làm đúng và xử lý người vi phạm.
Xa hơn, cần thay đổi cả cách nhìn về thành công trong kinh doanh. Không nên xem việc đảng viên sở hữu doanh nghiệp lớn hay có khối tài sản đáng kể tự thân là thành tích đáng biểu dương, cũng không nên coi sự giàu có là dấu hiệu bất thường.
Điều cần quan tâm là nguồn gốc tài sản có hợp pháp, hoạt động kinh doanh có minh bạch, doanh nghiệp tạo ra những giá trị gì và người đứng đầu thực hiện trách nhiệm với xã hội ra sao.
Một nền kinh tế năng động cần thêm những doanh nhân dám nghĩ, dám đầu tư, biết chấp nhận rủi ro và không ngừng đổi mới. Những phẩm chất ấy đáng được khuyến khích trong mọi thành phần kinh tế.
Đảng viên tham gia thương trường có thể góp phần thúc đẩy tinh thần đó bằng năng lực quản trị, sự liêm chính và cách hành xử có trách nhiệm. Nhưng uy tín phải được tạo dựng từ kết quả công việc và sự tín nhiệm của người lao động, đối tác, khách hàng, chứ không thể xuất phát từ tư cách chính trị của người chủ doanh nghiệp.
Sự chuyển đổi từ “cho phép” sang “khuyến khích” vì vậy sẽ có ý nghĩa sâu sắc hơn khi được cụ thể hóa bằng những quy định vừa mở rộng cơ hội làm giàu chính đáng, vừa ngăn ngừa khả năng biến quyền lực thành lợi ích kinh tế riêng.
Thị trường cần thêm những người có khả năng tạo ra của cải, nhưng không cần thêm những con đường tắt dành riêng cho bất kỳ ai. Khi mọi doanh nhân đều có thể cạnh tranh bằng năng lực, sự khuyến khích mới thực sự trở thành động lực phát triển, còn thành công trong kinh doanh sẽ được xã hội ghi nhận bằng chính những giá trị mà nó tạo ra.










Bình luận (0)