Trước hết, xin phân tích từ Hán Việt "anh hùng".
Anh (英) là ký tự xuất hiện lần đầu bằng chữ Triện vào thời Chiến Quốc, có hình dạng giống như cỏ, tượng trưng cho loài cây thân thảo. Anh (英) là chữ tượng hình, biểu thị một đóa hoa nằm giữa các lá xanh. Nói cách khác, anh (英) có nghĩa gốc là "loài hoa". Điều này được ghi nhận trong Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận thời Đông Hán. Tương tự, trong Mao Truyện có câu "anh do hoa dã" (anh giống như hoa vậy).
Về sau, mở rộng nghĩa, anh còn dùng để chỉ vẻ đẹp, chẳng hạn như trong Quảng nhã. Thích cổ có câu: "Anh, mĩ dã" (anh là đẹp) hoặc là "lông vũ trang sức trên cây giáo" (Thi kinh. Trịnh Phong. Cao Cừu). Ký tự này còn có nghĩa là "người anh hùng, có tài năng xuất chúng" hoặc dùng để chỉ "sự xuất sắc, tinh hoa, sự rực rỡ" hay "linh hồn, thần linh".
Hùng (雄) là ký tự xuất hiện lần đầu trong văn bản thời Chiến Quốc, nghĩa gốc dùng để chỉ loài chim trống, về sau còn có nghĩa là các loài động vật đực nói chung (Thi. Bắc Phong. Hùng Trĩ).
Trong Trang Tử. Đức song phù, hùng là từ chỉ nam giới; còn trong Tả truyện. Tương Công nhị thập nhất niên từ này dùng để chỉ người có quyền lực, hoặc là người lãnh đạo, người đứng đầu.
Từ ghép "anh hùng" có nguồn gốc từ Hán Thư. Hình pháp chí. Trong Nhân vật chí có câu: "Phù thảo chi tinh tú giả vị anh, thú chi đặc quần giả vị hùng" (Cỏ tốt nhất gọi là anh, thú tốt nhất gọi là hùng).
Nhìn chung, anh hùng là từ chỉ người tài giỏi xuất chúng, "người lập nên công trạng đặc biệt lớn lao đối với nhân dân, đất nước" hay "nhân vật thần thoại có tài năng và khí phách lớn, làm nên những việc phi thường" hoặc là "danh hiệu vinh dự cao nhất của nhà nước tặng thưởng cho người hoặc đơn vị…" (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, 1988, tr.22).
Thư (姐) xuất hiện lần đầu bằng chữ Tiểu Triện trong Thuyết Văn Giải Tự, bao gồm 2 ký tự: nữ (女) - biểu thị cho ý nghĩa và thư (且) - biểu âm. Thư có nghĩa là chim mái, giống cái (Sử Kí. Hạng Vũ. Bản Kí); còn là từ chỉ người mẹ. Trong thời cổ, người nước Thục gọi mẹ là thư, về sau mở rộng nghĩa thành "chị".
Trong Hán ngữ, thư (姐) còn là từ gọi phụ nữ nói chung (thư thư: chị gái; thư muội: chị em gái) hoặc cách gọi tôn trọng phụ nữ lớn tuổi (ai thư: bà nội).
Nhìn chung, ở thế kỷ 19, chưa phổ biến từ "anh thư", quyển Đại Nam Quấc âm tự vị (1895) chỉ ghi nhận từ "anh hùng". Đến thế kỷ 20, từ anh thư (英姐) mới xuất hiện với nghĩa là "người đàn bà giỏi có tiếng (femme célèbre, héroine)" - Giản-yếu Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, 1932, quyển Thượng, tr.10.
Tương ứng với từ "anh thư" là "nữ trung hào kiệt" (女中豪杰), một thành ngữ dùng để chỉ những người nữ xuất chúng, có tài năng và đức hạnh. Thành ngữ này xuất phát từ quyển 32 trong bộ Cảnh thế thông ngôn của Phùng Mộng Long thời nhà Minh.
Ngày nay, trên sách báo người ta thường sử dụng từ "anh hùng" cho cả nam giới và nữ giới. Theo chúng tôi, nếu không phải là danh hiệu thì nên sử dụng từ "anh hùng" cho người nam; "anh thư" hoặc "nữ anh hùng" cho người nữ. Thí dụ: "Nguyễn Văn Trỗi: người anh hùng bất khuất", "Bà Triệu - anh thư nước Việt" hoặc "nữ anh hùng Võ Thị Sáu"…
Bình luận (0)