Trong Hán ngữ, ký tự mã (馬) có nhiều tự hình, trải dài từ thời thượng cổ đến ngày nay. Hình thức chữ mã (馬) trong thời kỳ đầu có hình dạng giống con ngựa quay đầu nhìn lại, bờm tung bay; nét cong phía dưới biểu thị đuôi ngựa; còn bốn nét ngắn ở gốc (灬) tượng trưng cho chân ngựa.
Xét về từ nguyên, mã (馬) có nguồn gốc từ Nguyên ngữ Hán-Tạng (Proto-Sino-Tibetan): *k-m-raŋ ~ s-raŋ (Definify.com); giọng Bắc Kinh đọc là mǎ (Pinyin), Quảng Đông là maa (Jyutping), Khách Gia là mâ (Sixian, PFS), còn Mân Nam là bé / bée / má (POJ)…
Trong phần Thuyết Quái (Kinh Dịch) có một quẻ tương ứng với mã: "Kiền vi mã" (quẻ Kiền tượng trưng cho con ngựa).
Mã còn là từ chỉ số lượng, thẻ ghi số đếm (cách viết cổ là mã 碼), thường sử dụng trong trò chơi "đầu hồ" (投壺) có từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc (người chơi ném phi tiêu vào một chiếc bình đồng hoặc gốm có cổ cao).
Ngoài ra, mã còn dùng để chỉ họ Mã (Thông chí. Thị tộc lược tam) hoặc việc binh hay kỵ binh.
Có những từ ghép với mã, song chẳng liên quan gì tới ngựa, mà là từ chỉ những con vật khác: mã phong (ong bắp cày); mã loa (con la); mã điệt (con đỉa lớn); mã huyền (tên loại sâu hoặc cuốn chiếu)…; hay chỉ thực vật: mã đậu (đậu to); mã đề (cây mã đề)…; hoặc chỉ vật dụng: mã thược (muỗng canh, gáo múc nước); mã bao (túi vải dài, có một lỗ ở giữa và hai bên để đựng đồ); mã thuyền (thuyền quan loại lớn); mã dũng (bồn cầu, cái bô; còn gọi là mã tử)…
Ngoài ra, còn nhiều từ ghép mang nghĩa khác: mã đạo (đường lớn); mã tiếu (lính do thám); mã tế (nghi lễ thờ cúng thần ngựa); mã họa (tai họa liên quan đến ngựa) hay mã đồ (tranh ngựa, mô tả một con long mã trồi lên từ mặt nước theo truyền thuyết)...
Cẩu mã (chó và ngựa), nói chung về thú nuôi giải trí thời xưa và còn là từ khiêm cung của bầy tôi xưng với vua; cừu mã (áo cừu và ngựa), biểu thị cảnh giàu sang; hãn mã (ngựa đổ mồ hôi), nói về công lao chiến trận; khuyển mã (chó và ngựa), biểu thị bầy tôi hoặc đầy tớ trung thành… Riêng cái từ ban mã có nghĩa là ngựa vằn song còn là từ hợp xưng, dùng để chỉ hai sử gia Ban Cố và Tư Mã Thiên.
Về động từ, mã còn viết là mạ 罵 (mắng chửi), như trong từ điển Quảng Nhã cho biết: "Mã mạ dã" (Mã có nghĩa là mắng chửi).
Đến thế kỷ thứ 7, chữ mã (馬) viết theo lối khải thư du nhập vào nước ta (thời Giao Châu và An Nam), phổ biến dần trong văn bản chữ Hán của người Việt.
Tương ứng với mã là ngựa (chữ Nôm: 馭). Trong Lục Vân Tiên truyện có câu: "Vân Tiên đầu đội kim khôi. Tay cầm rìu bạc, mình ngồi ngựa ô". Ngựa ô (lông đen tuyền), ngựa bạch (trắng tuyền) thì quá quen thuộc rồi, song ngựa còn có nhiều màu lông khác: ngựa đạm (đỏ sậm ánh vàng); ngựa kim (trắng điểm một ít lông đen); ngựa hồng (nâu hồng hoặc đỏ sậm); ngựa hởi (lông trắng, 4 chân đen); ngựa khứu (đen pha chút đỏ hoặc đỏ sậm pha nâu); ngựa tía (đỏ thắm)…
Dĩ nhiên ngựa vía không chỉ màu lông ngựa, mà nói về hình con ngựa bằng giấy dùng trong lễ cúng. Thành ngữ "Chạy như ngựa vía" hay "Nhanh như ngựa vía" dùng để ví von hành động di chuyển rất nhanh.
Ở miền Nam, từ lóng "ngựa" dùng để chỉ người nữ điệu đàng, nhí nhảnh, xí xọn… Ví dụ: Con gái gì mà ngựa quá.
Bình luận (0)