Mở đường đưa trà Việt thoát 'bẫy' xuất thô giá rẻ

Có nhiều vùng chè nổi tiếng, cùng bề dày văn hóa lâu đời nhưng ngành trà Việt Nam vẫn đang xuất khẩu thô giá trị thấp. Để nâng cao giá trị, ngành trà cần chuyển đổi tư duy, phát triển hệ sinh thái đa lớp giá trị, đẩy mạnh chế biến sâu, kết hợp du lịch văn hóa.

Ngành trà đang chỉ bán lá

Tại Diễn đàn kinh tế trà quốc tế 2026 với chủ đề "Từ di sản trà đến kinh tế trà toàn cầu" do UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức hôm 31.10, các chuyên gia, đại diện các doanh nghiệp thẳng thắn phân tích điểm nghẽn và kiến nghị những giải pháp đưa trà Việt thoát khỏi "bẫy" xuất khẩu thô giá rẻ hiện nay, xây dựng thương hiệu cho những sản phẩm chế biến sâu, khẳng định vị thế, uy tín chất lượng trên toàn cầu.

Mở đường đưa trà Việt thoát 'bẫy' xuất thô giá rẻ - Ảnh 1.

Vùng nguyên liệu chè hữu cơ Quân Chu (Thái Nguyên) đang đẩy mạnh khai thác du lịch

ẢNH: ESG VALEY

Chỉ ra thực trạng ngành chè xuất khẩu thô với giá rẻ, ông Nguyễn Ngọc Bình, Phó chủ tịch Hiệp hội chè Việt Nam, Tổng thư ký Hội Khoa học công nghệ chè Việt Nam, dẫn chứng năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 137.000 tấn chè, thu về gần 238 triệu USD, giá bình quân ở mức rất thấp, chỉ khoảng 1,74 USD/kg.

"Mức giá này không đại diện cho mọi dòng chè Việt Nam, đặc biệt là những sản phẩm đặc sản có giá trị cao nhưng đặt ra một câu hỏi: Tại sao có nhiều vùng chè nổi tiếng và nền văn hóa trà phong phú mà Việt Nam vẫn chưa khai thác hết giá trị kinh tế của cây chè", ông Bình nêu vấn đề.

Theo ông, Việt Nam không chỉ cần làm ra nhiều chè hơn, mà phải làm chủ được công nghệ để tạo ra những sản phẩm tốt hơn, có giá trị cao hơn đáp ứng nhu cầu của thị trường. 

Để thoát "bẫy" xuất khẩu thô giá rẻ hiện nay, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải là giải pháp cốt lõi, để làm chủ chuỗi giá trị từ nguyên liệu đến chế biến sâu và số hóa, thương hiệu trà Việt có thể khẳng định vị thế, vươn tầm quốc tế.

Bên cạnh đó, ngành trà chuyển dịch sang chế biến sâu, tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng như matcha, trà hòa tan, đồ uống pha sẵn..., thay vì chỉ tiêu thụ chè khô truyền thống; đầu tư cho số hóa dữ liệu từ vùng trồng đến đóng gói, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Phân tích về tiềm năng ngành trà, ông Steve Bùi, Chủ tịch Hội đồng doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc, cho rằng ngoài vùng trà Thái Nguyên, Việt Nam đang sở hữu rất nhiều vùng trà đặc sản, hương vị đặc biệt. Nhưng người tiêu dùng trong nước sử dụng theo bản năng, thiếu các quy chuẩn tiêu chí rõ ràng. 

Trong khi đó, các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản đã xây dựng thành công nền "công nghiệp văn hóa trà" bài bản.

Mở đường đưa trà Việt thoát 'bẫy' xuất thô giá rẻ - Ảnh 2.

Khách du lịch trải nghiệm chế biến trà truyền thống ở vùng chè La Bằng, tỉnh Thái Nguyên

ẢNH: HOÀNG HƯNG

Dẫn chứng Trung Quốc, ông Steve Bùi cho hay, quốc gia này đặt mục tiêu đạt giá trị toàn chuỗi khoảng 1.500 tỉ NDT (tương đương 216 tỉ USD) vào năm 2030. Trong 9 tháng năm nay, quy mô sản phẩm trà tinh chế của Trung Quốc vượt 200 tỉ NDT (trên 30 tỉ USD). 

Trung Quốc coi du lịch văn hóa trà đóng vai trò cầu nối gia tăng giá trị, thúc đẩy giá trị, doanh thu từ ngành này đã đạt 200 tỉ NDT trong năm 2025 với 182 triệu lượt khách.

Ông Steve Bùi nhận định Thái Nguyên có tiềm năng không thua kém bất kỳ vùng trà nào trên thế giới, có giống trà quý, có khí hậu và thổ nhưỡng tuyệt vời, có bề dày văn hóa trà lâu đời. Nhưng địa phương đang dừng lại ở việc bán lá trà trong khi giá trị thực sự nằm ở hệ sinh thái xung quanh cây trà. 

Từ thực tiễn này, ông Steve Bùi gợi ý, Thái Nguyên cần đầu tư xây dựng thương hiệu trà Thái Nguyên bài bản, có giá trị trong khu vực và được quảng bá chuyên nghiệp. Đồng thời, phát triển du lịch trà, biến Thái Nguyên thành điểm đến của du khách quốc tế, không chỉ để uống trà mà để trải nghiệm văn hóa trà, tham quan vườn trà, học cách chế biến…

Đào tạo nhân lực chuyên sâu, khai thác di sản văn hóa trà

Mở đường đưa trà Việt thoát 'bẫy' xuất thô giá rẻ - Ảnh 3.

Cuộc thi hái, chế biến chè tại Hợp tác xã chè La Bằng trong Festival trà quốc tế Thái Nguyên 2026

ẢNH: HOÀNG HƯNG

Ông Trịnh Quang Dũng, Chủ tịch Liên chi hội Văn hóa trà Việt Nam, đánh giá ngành trà Việt đang sở hữu kho tàng di sản phong phú nhưng chưa khai thác tương xứng. Kinh tế trà trong nước chủ yếu mới dừng ở giá trị vật thể như búp trà tươi và sản phẩm chế biến thô, trong khi những giá trị phi vật thể gắn liền với lịch sử, văn hóa thưởng trà và kỹ nghệ truyền thống chưa được phát huy.

Vị chuyên gia ngành trà cho rằng, đối với Thái Nguyên, di sản văn hóa chính là nguồn lực cốt lõi để tạo sự khác biệt. Dù vậy, "điểm nghẽn" lớn hiện nay là công tác đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu khi ngành trà thiếu vắng các cơ sở đào tạo bài bản. 

Để đưa trà Việt vươn ra toàn cầu, khẳng định chất lượng, người làm trà cần am hiểu toàn diện từ văn hóa, công nghệ đến quản trị và thị trường.

"Thái Nguyên hoàn toàn có thể nghiên cứu xây dựng một trung tâm đào tạo chuyên gia và nguồn nhân lực ngành trà cho cả nước. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển các sản phẩm mới, đổi mới phương thức kinh doanh và gia tăng giá trị thương mại cho di sản trà Việt", ông Dũng nhìn nhận.

Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Vinh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP chè Quân Chu, cho rằng ở Thái Nguyên, cây trà không đơn thuần là sản phẩm nông nghiệp mà đã trở thành bản sắc, đi sâu vào ký ức và nếp sống của người dân. Nhưng di sản văn hóa, lịch sử là lợi thế khởi đầu, chưa bảo đảm cho thành công. Có sản phẩm trà ngon nhưng chưa chắc xây dựng được thương hiệu mạnh, nổi tiếng để mang lại thu nhập tương xứng cho người trồng trà.

Từ những trăn trở trên, bà Vinh cho biết, Quân Chu đang liên kết với các đối tác phát triển vùng trà hữu cơ 300 ha, xây dựng vùng nguyên liệu chuẩn hóa, chất lượng ổn định, minh bạch nguồn gốc; chế biến sâu và đa dạng các sản phẩm hiện đại bên cạnh trà truyền thống chinh phục những phân khúc thị trường mới. 

Mô hình này khai thác cảnh quan thiên nhiên, câu chuyện lịch sử và tri thức bản địa để phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm văn hóa trà; ứng dụng công nghệ để kết nối trực tiếp vùng sản xuất với chuỗi cung ứng, nhà phân phối và thị trường quốc tế.

Đặc biệt, đây cũng là mô hình giáo dục, nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa. Vùng trà sẽ trở thành nơi nghiên cứu giống, công nghệ, bảo tồn nguồn gen, truyền dạy tri thức và đào tạo thế hệ doanh nhân, người làm trà mới.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.