Giữ chiều sâu giáo dục trong chuyển đổi số
Thưa GS, bước sang năm mới, ông đánh giá đâu là thách thức lớn nhất của giáo dục Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra?
GS-TS Huỳnh Văn Sơn: Nếu phải chọn một thách thức lớn nhất của giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, tôi cho rằng đó không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là con người trong chuyển đổi số. Chúng ta nói nhiều về trí tuệ nhân tạo (AI), lớp học thông minh, nền tảng số, nhưng điều quan trọng là giáo viên đã sẵn sàng chưa, học sinh đã có đủ năng lực tự học và tự quản trị bản thân trong môi trường số hay chưa?
Chuyển đổi số nếu không đi kèm chuyển đổi nhận thức và năng lực sẽ dễ rơi vào hình thức. Điều cần làm là củng cố nội lực, thay đổi thói quen và nâng cao khả năng thích ứng của cả giáo viên lẫn học sinh.
Sau đại dịch Covid-19, vấn đề sức khỏe tâm thần học sinh bộc lộ rõ hơn. Nghiên cứu chúng tôi công bố năm 2025 cho thấy gần 50,5% học sinh đạt thành tích xuất sắc nhưng vẫn gặp khó khăn tâm lý khi cần tìm kiếm hỗ trợ. Điều đó cho thấy thành tích cao không đồng nghĩa với trạng thái tinh thần khỏe mạnh. Trong bối cảnh chuyển đổi số, áp lực càng phức tạp khi học sinh tiếp cận thông tin nhanh nhưng thiếu chọn lọc, giáo viên phải liên tục thích nghi, và khoảng cách số giữa các vùng miền vẫn tồn tại.
Thách thức lớn nhất không phải là "thiếu công nghệ"mà là nguy cơ đánh mất chiều sâu giáo dục nếu chúng ta chạy theo công nghệ mà quên đi triết lý giáo dục. Công nghệ là phương tiện, con người mới là trung tâm. Nếu không giữ được trục giá trị đó, chuyển đổi số sẽ chỉ là "lớp sơn mới trên một cấu trúc cũ" còn nặng cấu trúc, nặng tính ì.
Chuyển đổi số đang được kỳ vọng tạo bước ngoặt cho giáo dục, nhưng cũng làm gia tăng áp lực với giáo viên. Vậy làm thế nào để việc ứng dụng công nghệ trong đào tạo giáo viên hiện nay ra sao để không chạy theo phong trào?
Chuyển đổi số có sức mạnh rất đặc biệt nhưng cần toàn cục, đúng nghĩa và hạn chế tối đa "chuyển đổi số hình thức".
Chúng ta không thể chỉ đưa bài giảng lên PowerPoint rồi gọi đó là đổi mới, hay chỉ dùng AI soạn giáo án rồi nghĩ mình đã hiện đại bởi những nghiên cứu về các trục chuyển đổi số và dạy học trực tuyến, giáo dục thông minh cần nhiều hơn thế rất nhiều.
Công nghệ cần được ứng dụng theo 3 nguyên tắc. Một là phù hợp mục tiêu sư phạm. Công nghệ phải phục vụ mục tiêu phát triển năng lực học sinh. Hai là tăng cường tương tác. Nếu công nghệ làm giảm tương tác người và người, thì cần xem lại. Ba là bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên. Giáo viên phải biết thiết kế học liệu số, đánh giá học sinh trên nền tảng số, bảo vệ sức khỏe tâm thần học sinh trong môi trường mạng.
Công nghệ chỉ có giá trị khi người thầy làm chủ nó. Nếu người thầy bị công nghệ dẫn dắt, giáo dục sẽ mất phương hướng.

GS-TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM
ẢNH: NVCC
Là một trong những cơ sở đào tạo giáo viên trọng điểm, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đang đứng trước những áp lực gì trong việc chuẩn bị đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, thưa GS?
Là một cơ sở đào tạo giáo viên trọng điểm quốc gia, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đang đứng trước 3 áp lực lớn.
Thứ nhất là áp lực chuẩn hóa và hội nhập. Chương trình giáo dục phổ thông mới yêu cầu giáo viên dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, tích hợp liên môn, ứng dụng công nghệ và đánh giá vì sự tiến bộ của người học. Điều đó buộc nhà trường không chỉ cập nhật chương trình đào tạo mà còn đổi mới triết lý đào tạo. Giáo viên tương lai phải vừa vững chuyên môn, vừa là người tổ chức học tập, có năng lực tham vấn cơ bản và năng lực số.
Thứ hai là áp lực từ thực tiễn lớp học ngày càng đa dạng và biến động. Sinh viên ra trường có thể "ngộp" trước lớp học đông, chênh lệch năng lực, nhiều vấn đề tâm lý và kỳ vọng từ phụ huynh. Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Giáo dục năm 2024 cho thấy học sinh thường tìm đến gia đình, bạn bè hơn là chuyên gia khi gặp khó khăn, điều này đòi hỏi giáo viên phải được trang bị kỹ năng tâm lý học đường, quản trị lớp học và khả năng thích ứng cao hơn.
Thứ ba là áp lực thu hút người học giỏi vào ngành sư phạm. Nghề giáo chịu tác động bởi thu nhập, áp lực xã hội và hình ảnh nghề nghiệp. Giữ chất lượng đầu vào là bài toán chiến lược, bởi đào tạo giáo viên hôm nay không chỉ cho lớp học hiện tại mà cho thế hệ công dân của 20 năm tới.

Công nghệ chỉ có giá trị khi người thầy làm chủ nó
ẢNH: THANH NAM
Để không "choáng" trước thực tế lớp học, phải tăng trải nghiệm thực
Nhiều sinh viên sư phạm chia sẻ rằng khi ra trường vẫn có thể "choáng" trước thực tế lớp học. Theo GS, đâu là nguyên nhân của khoảng cách này và nhà trường cần làm gì để rút ngắn?
Tôi cho rằng không thể tuyệt đối hóa rằng đào tạo đạt hiệu quả hoàn mỹ, bởi đào tạo là một quá trình và đòi hỏi từ thực tiễn là không ngừng, có thể vênh nhau vài năm thậm chí là hơn… Tuy vậy, dưới góc độ chung, có thể nói khoảng cách giữa đào tạo và thực tế xuất phát từ 3 nguyên nhân chính.
Một là môi trường mô phỏng chưa đủ độ phức tạp, đa dạng và thực tiễn đúng nghĩa. Sinh viên thực tập thường tiếp cận lớp học trong điều kiện "đã được chuẩn bị". Trong khi thực tế có sự chênh lệch năng lực, vấn đề tâm lý, áp lực thành tích và phụ huynh đa dạng... Điều đó đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà còn phải hiểu tâm lý học sinh, biết sát cánh, đồng cảm, đồng hành, hợp tác để hỗ trợ.
Hai là tự tin chuyên môn nhưng thiếu trải nghiệm quản trị cảm xúc. Nhiều sinh viên tin rằng có thể tự xử lý vấn đề nhưng thực tế lớp học đòi hỏi kỹ năng giao tiếp và điều tiết cảm xúc rất cao. Quản trị cảm xúc cá nhân của một người trẻ dù được chuẩn bị vẫn cần trải nghiệm sâu sắc và đa chiều cũng như cần "phả" vào hơi thở của tương tác… nên đây có thể là một vấn đề khá lớn cần không ngừng rèn luyện
Ba là chưa đủ thời lượng thực hành liên tục và thực hành giả định vẫn còn. Nhà trường có thể cân nhắc các vấn đề sau: tăng thực tập sớm, gắn kết chặt với trường phổ thông, mời giáo viên giỏi tham gia đào tạo… Khoảng cách sẽ được rút ngắn khi sinh viên được "va chạm thật" nhiều hơn, có người hướng dẫn sát sao hơn.

Người thầy không chỉ đứng trên bục giảng mà đứng trong tương lai của đất nước
ẢNH: THANH NAM
Nghề giáo phải được nhìn nhận là nghề của trí tuệ và ảnh hưởng xã hội cao
Trong bối cảnh thu nhập và áp lực nghề giáo còn nhiều trăn trở, theo GS, làm thế nào để giữ được nhiệt huyết và thu hút người trẻ giỏi gắn bó lâu dài với nghề sư phạm?
Đây là câu hỏi lớn và mang tính chiến lược quốc gia. Theo tôi, cần đồng thời 3 giải pháp.
Một là chính sách đãi ngộ ổn định và đủ sống. Không thể nói đến cống hiến nếu người thầy luôn lo toan kinh tế.
Hai là tái định vị hình ảnh nghề giáo. Nghề giáo phải được nhìn nhận là nghề của trí tuệ và ảnh hưởng xã hội cao. Một giáo viên giỏi có thể thay đổi quỹ đạo cuộc đời của hàng trăm học sinh.
Ba là nuôi dưỡng động cơ nội tại. Chúng ta cần khẳng định với nhau, rằng người chọn nghề giáo bằng trái tim sẽ bền bỉ hơn người chọn bằng hoàn cảnh. Chúng ta cần tuyển chọn, bồi dưỡng và truyền cảm hứng cho những người thật sự yêu nghề.

Nghề giáo gieo niềm tin, dẫn dắt nhân cách, giữ thăng bằng tâm lý cho học sinh, khai thác và thúc đẩy sự phát triển của từng con người…
ẢNH: THANH NAM
Nhân dịp năm mới, GS muốn gửi gắm thông điệp gì đến sinh viên sư phạm, những người sẽ trực tiếp đứng lớp, góp phần định hình thế hệ tương lai?
Các em, những sinh viên sư phạm đang chuẩn bị bước vào một nghề đặc biệt. Nghề giáo không chỉ dạy kiến thức, không chỉ bồi dưỡng học sinh lớn lên theo thời gian. Nghề của chúng ta là gieo niềm tin, dẫn dắt nhân cách, giữ thăng bằng tâm lý cho học sinh, khai thác và thúc đẩy sự phát triển của từng con người…
Nếu trải nghiệm các điều sau, có lẽ mỗi sinh viên sư phạm sẽ cảm nhận sâu sắc hơn về hành trình cố gắng của mình để làm nghề giáo: học suốt đời vì tri thức luôn thay đổi, giữ nhân ái vì học sinh cần sự thấu cảm, giữ bản lĩnh vì giáo dục đang chuyển động rất nhanh. Bởi người thầy không chỉ đứng trên bục giảng, mà đứng trong tương lai của đất nước. Mong mỗi bạn không chỉ chuẩn bị cho một công việc, mà chuẩn bị cho một sứ mệnh. Bởi giáo dục không phải là truyền đạt điều đã biết, mà là khơi mở điều tốt đẹp còn đang tiềm ẩn trong mỗi con người.
Không ngừng cố gắng đạt đến các điều trên ở từng mức độ, chúng ta sẽ cảm nhận đầy đủ hơn về sứ mạng của thầy cô giáo ở mỗi mùa xuân và cả cuộc đời của mỗi con người ở nhiều thế hệ ta làm nghề…
Bình luận (0)