Mưu sinh mùa nước nổi - Kỳ 2: Những người bám nghề đóng xuồng

Thanh Quân
Thanh Quân
Rạch Bà Đài từng có hàng trăm hộ đóng xuồng, ghe, đỏ lửa ngày đêm. Nay, khi những chiếc xuồng gỗ dần vắng bóng trên sông mùa nước nổi, người thợ già đang tìm cách đưa nghề truyền thống sang một trang mới.

Làng đóng xuồng một thời vang danh

Những ngày đầu mùa nước nổi, đứng bên rạch Bà Đài, xã Long Hậu (tỉnh Đồng Tháp), khó hình dung nơi đây từng là một trong những làng nghề đóng xuồng, ghe sôi động bậc nhất vùng đầu nguồn. Và cũng chính cái nghề này, năm 2015 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Những người níu giữ làng nghề đóng xuồng - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Văn Tám đang miệt mài làm những chiếc xuồng nhỏ

ẢNH: THANH QUÂN

Những người lớn tuổi trong làng vẫn nhớ thời kỳ hàng trăm hộ cùng theo nghề. Tiếng cưa, tiếng đục vang lên từ sáng đến tối. Những căn nhà ven rạch đỏ lửa, xuồng ghe đóng xong được đưa xuống bến chờ khách. Có thời điểm, thợ làm không kịp đơn hàng.

Nghề đóng xuồng từng gắn chặt với đời sống cư dân sông nước. Mùa nước nổi về, chiếc xuồng không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là "cần câu cơm", khi người dân dùng xuồng để giăng lưới, đặt lợp, chở cá, chở hàng, đi thăm đồng.

Bởi vậy, sự thịnh suy của làng nghề cũng gắn với sự thay đổi của chính mùa nước nổi. Men theo con đường quê vào sâu trong làng, dấu vết của thời vàng son vẫn còn nằm đó. Nhiều xưởng cưa, xưởng đóng ghe bỏ hoang, cỏ dại phủ kín. Những khoảng sân từng đầy gỗ, đầy xuồng nay im ắng. Phải được người dân chỉ dẫn, chúng tôi mới tìm thấy những xưởng còn đỏ lửa.

Những người níu giữ làng nghề đóng xuồng - Ảnh 2.

Mỗi chiếc xuồng nhỏ như thế này ông Tám bán với giá 600.000 đồng

ẢNH: THANH QUÂN

Tại một xưởng nhỏ ven rạch, ông Nguyễn Văn Tám (55 tuổi) đang cặm cụi hoàn thiện những chiếc xuồng gỗ. Mùi gỗ mới lan trong không khí, tiếng đục đều đặn vang lên giữa buổi trưa. Ông Tám đã có hơn 30 năm theo nghề. Nhưng những chiếc xuồng ông đang làm không giống những chiếc xuồng mà người dân vùng này từng dùng để ra đồng. Chúng nhỏ đến mức không thể chèo đi trên sông. Đó là những chiếc xuồng để... trang trí.

"Giờ chủ yếu làm mấy chiếc nhỏ này để bán cho nhà hàng, khu du lịch, làm tiểu cảnh. Gần tết thì khách đặt nhiều hơn để trang trí", ông Tám nói. Chiếc xuồng từng được sinh ra để chở người, chở cá giữa mùa nước nổi nay được thu nhỏ để bước vào một đời sống khác. Sự thay đổi ấy không phải lựa chọn ban đầu của những người thợ. Nó đến từ chính sự thay đổi trong nhu cầu sử dụng.

Ông Tám nhớ thời nghề còn thịnh, mỗi năm có thể đóng hơn 100 chiếc xuồng lớn nhỏ. Nay, cả năm bán chưa được 20 chiếc. "Có khách đặt trước mới dám đóng. Chứ giờ đóng sẵn mà không có người mua thì vốn nằm đó", ông nói.

Chiếc xuồng tìm đường sống mới

Cách xưởng ông Tám không xa, ông Nguyễn Văn Ích (60 tuổi) vẫn giữ nguyên cách làm thủ công đã theo mình hơn 40 năm. Ông Ích có thể kể vanh vách từng giai đoạn thăng trầm của làng nghề. Khoảng năm 1986, riêng khu vực này có hơn 200 hộ đóng xuồng. Sau đó số hộ giảm dần, từ vài trăm xuống hơn 100 rồi còn vài chục. Bây giờ chưa tới 10 hộ còn bám nghề.

Những người níu giữ làng nghề đóng xuồng - Ảnh 3.

Ông Nguyễn Văn Ích (áo xanh) đang đóng những chiếc xuồng cho khách

ẢNH: THANH QUÂN

Theo ông Ích, nguyên nhân không chỉ nằm ở việc nguồn lợi thủy sản tự nhiên giảm, mà do phương tiện phục vụ đời sống sông nước cũng thay đổi. "Giờ người ta ít đóng ghe gỗ vì đắt, lại nặng. Ghe composite nhẹ hều, chạy máy đuôi tôm lẹ lắm", ông nói.

Một chiếc xuồng gỗ mất nhiều công sức và thời gian để hoàn thiện, trong khi người sử dụng ngày càng có nhiều lựa chọn khác. Khi người dân không còn dùng xuồng gỗ nhiều như trước, đầu ra của làng nghề cũng thu hẹp. Những người thợ lớn tuổi lần lượt bỏ nghề. Người trẻ thì chọn lên TP.HCM và các đô thị lớn tìm việc làm. Làng nghề vì thế không chỉ mất khách hàng mà còn đứng trước nguy cơ mất luôn người kế nghiệp.

Những người níu giữ làng nghề đóng xuồng - Ảnh 4.

Hiện nay số lượng xuồng lớn được đóng tại làng nghề này rất ít

ẢNH: THANH QUÂN

Nhưng những người như ông Tám, ông Ích vẫn chưa muốn dừng lại. Nếu chiếc xuồng không còn được dùng nhiều trên sông thì đưa nó vào nhà hàng, khu du lịch, điểm tham quan. Nếu không thể bán những chiếc xuồng lớn thì thu nhỏ lại, làm thành sản phẩm trang trí.

Một chiếc xuồng nhỏ vì vậy không còn chỉ là món hàng. Nó là cách người thợ tìm một thị trường mới để giữ lại nghề cũ. "Làm mấy chiếc nhỏ tuy lợi nhuận không bằng hồi trước, nhưng cũng có thêm thu nhập. Quan trọng là mình còn làm, giữ được cái nghề của ông bà để lại", ông Tám nói.

Những chiếc xuồng nhỏ xuất hiện ngày càng nhiều trong các không gian du lịch, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng. Có nơi dùng xuồng làm tiểu cảnh, có nơi trang trí bằng những chiếc xuồng gỗ gợi hình ảnh miền Tây mùa nước nổi.

Từ một phương tiện mưu sinh, chiếc xuồng dần trở thành một vật kể chuyện. Nó kể về miền đất mà cuộc sống từng vận hành theo mùa nước nổi; về những chuyến ghe chở cá cập bến lúc sáng sớm; về những căn nhà sàn và những mùa nước từng phủ trắng đồng. Với người thợ, đó cũng là một cách để nghề không bị đứt đoạn.

Giữ nghề bằng cách chấp nhận thay đổi

Buổi trưa ở rạch Bà Đài, những chiếc xuồng nhỏ nằm xếp cạnh nhau dưới mái xưởng. Không còn cảnh hàng chục người thợ cùng làm như trong ký ức, nhưng tiếng đục gỗ vẫn đều đặn vang lên.

Những người níu giữ làng nghề đóng xuồng - Ảnh 5.

Nhiều người có thâm niên hàng chục năm đóng xuồng đã chuyển dần sang làm xuồng nhỏ để bán trang trí

ẢNH: THANH QUÂN

Ông Tám nói nghề bây giờ không thể sống như trước. Muốn giữ nghề thì phải chấp nhận thay đổi. "Không thay đổi thì mình chết nghề. Người ta không mua xuồng lớn nữa thì mình làm loại nhỏ, phục vụ trang trí. Miễn sao còn có người đặt, mình còn làm được", ông nói.

Ông Ích cũng vậy. Hơn 40 năm gắn với những thanh gỗ, ông hiểu rõ hơn ai hết rằng không thể bắt thị trường quay lại như ngày xưa. Điều ông mong là nghề đóng xuồng vẫn còn người làm, kỹ thuật truyền thống vẫn còn người biết và thế hệ sau vẫn nhận ra chiếc xuồng gỗ từng quan trọng thế nào đối với miền sông nước.

Trong xưởng, những người thợ lớn tuổi vừa làm vừa kể chuyện. Chuyện loại gỗ nào tốt, chiếc xuồng nào đi nước êm, ngày trước đóng một chiếc ghe mất bao lâu, mùa nước năm nào lớn nhất.

Ngoài kia, một nhóm người từng sống bằng nghề sông nước ghé lại uống trà. Họ hỏi nhau về con nước, chuyện cái ghe, cái máy đuôi tôm. Những câu chuyện tưởng như vụn vặt ấy lại chính là ký ức của một vùng đất.

Những người níu giữ làng nghề đóng xuồng - Ảnh 6.

Những chiếc xuồng thành phẩm đang xếp gọn chờ khách đến lấy

ẢNH: THANH QUÂN

Rồi một cơn mưa mùa nước nổi bất chợt trút xuống. Mái tôn xưởng đóng xuồng vang tiếng lộp bộp. Ông Tám và ông Ích vẫn cúi xuống bên những thanh gỗ.

Làng nghề đóng xuồng rạch Bà Đài đã không còn cảnh "trên bến dưới thuyền" như thuở trước. Từ hơn 200 hộ, nay chỉ còn chưa tới 10 hộ bám nghề. Những đơn hàng xuồng lớn ngày một thưa, người trẻ cũng lần lượt rời làng. Nhưng nghề chưa biến mất. Nó đang thu mình lại trong những xưởng nhỏ, trong đôi tay của người thợ đã dành gần cả đời cho gỗ và con nước. 

Ở rạch Bà Đài, giữ nghề không cố làm thật nhiều xuồng như ngày trước. Mà giữ cho tiếng đục vẫn vang lên, giữ kỹ thuật của người thợ không thất truyền và giữ hình dáng chiếc xuồng tiếp tục hiện diện trong một miền Tây đang đổi thay. (còn tiếp)

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.