Trên hành trình ấy, dòng sông Trà không chỉ mang phù sa bồi đắp ruộng đồng mà còn hào phóng ban tặng cho cư dân ven sông những sản vật đặc trưng, tạo nên bản sắc rất riêng của vùng đất Quảng. Trong số đó, con don, loài nhuyễn thể "độc bản" của sông Trà, đã trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây.
ĐẶC SẢN TỪ DÒNG NƯỚC LỢ
Ở đoạn cuối sông Trà, nơi hai dòng nước mặn - ngọt giao hòa, chính là "thủ phủ" của loài don. Đây là vùng nước lợ, nơi phù sa từ thượng nguồn tích tụ, tạo nên nguồn thức ăn dồi dào cho loài nhuyễn thể nhỏ bé này.
Don sống vùi mình sâu dưới lớp cát, âm thầm hấp thụ dưỡng chất từ dòng nước, từ đó hình thành nên vị ngọt thanh đặc trưng mà không nơi nào có được. Chính điều kiện tự nhiên đặc biệt ấy đã làm nên danh tiếng của món don xứ Quảng.

Người dân cào don trên sông Trà
ẢNH: HẢI PHONG
Từ con don bé xíu, người Quảng Ngãi đã khéo léo chế biến thành món ăn dân dã nhưng nức tiếng. Một tô don nóng hổi, chan nước dùng trong veo, bẻ thêm miếng bánh tráng, điểm chút ớt cay nồng…, tất cả hòa quyện tạo nên hương vị khó quên.
Bà Phạm Thị Kim Liên (70 tuổi, ở xã An Phú, Quảng Ngãi), chủ quán don lâu năm, cho biết gia đình bà đã gắn bó với nghề nấu don suốt hơn 80 năm. "Don không cầu kỳ nhưng làm sạch rất cực. Phải ngâm, đãi nhiều lần cho hết cát, rồi mới tách ruột, nấu với hành tỏi. Cái ngon của don là vị ngọt tự nhiên, không cần nêm nếm nhiều", bà Liên chia sẻ.
Theo bà, món don cũng giống như tính cách người Quảng Ngãi - mộc mạc, giản dị nhưng đậm đà, chân chất. "Không phải cao lương mỹ vị, nhưng ai đi xa cũng nhớ", bà nói.
Để có được những tô don nóng hổi, phía sau là cả một hành trình mưu sinh nhọc nhằn của những người cào don nơi cuối sông.

Cào don phải đi thụt lùi
ẢNH: HẢI PHONG
THEO CHÂN NGƯỜI CÀO DON
Khoảng tháng 2 - 7 hằng năm, khi nước sông bắt đầu rút sau mùa mưa lũ, người dân xã An Phú lại tất bật vào mùa cào don. Từ tờ mờ sáng, từng tốp người đã có mặt trên những chiếc ghe nhỏ, hướng ra khu vực giáp cửa Đại. Trên tay họ là những chiếc cào đơn sơ làm từ tre và nhựa. Mỗi người lùi từng bước dưới nước, rà sát lớp cát để tìm don.
Công việc tưởng chừng đơn giản nhưng thực chất đòi hỏi sức bền và kinh nghiệm. Người cào don phải vừa đi giật lùi, vừa nhấn cào xuống đáy cát, cảm nhận bằng tay để biết mẻ cào có "trúng" hay không. Khi cào được nhiều, họ đổ don vào những chiếc rổ, đãi sơ bằng nước sông rồi cho vào bao tải trên ghe. Cứ thế, từng mẻ don được gom lại trong sự kiên nhẫn.
Khoảng 6 giờ 30 sáng, ông Cao Văn An (43 tuổi, xã An Phú) bắt đầu một ngày làm việc quen thuộc. Từ bến sông quê, ông điều khiển ghe sang khu vực thôn An Đạo (xã Tịnh Khê) - nơi có nhiều don nhất. "Phải đi sớm mới kịp con nước. Khi nước rút mới cào được, nước lớn là phải nghỉ", ông An cho hay.

Bà Phạm Thị Kim Liên múc don cho khách
ẢNH: HẢI PHONG
Đến gần trưa, khi mặt trời đứng bóng, ông cùng nhiều người khác bắt đầu quay về bến, bán don cho thương lái. Trung bình mỗi ngày, một người cào được khoảng một bao don tương đương hơn 10 rổ.
Điều đặc biệt là don không bán theo ký mà tính bằng rổ (cạu), mỗi rổ khoảng 60.000 đồng. Nhờ đó, mỗi ngày người cào don có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng. Đó cũng là nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình ven sông. So với nhiều nghề sông nước khác, cào don được xem là có thu nhập khá ổn định, đặc biệt vào mùa cao điểm. Tuy nhiên, nghề này vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên.

Người cào don phải đi làm từ tờ mờ sáng, khi mặt trời lên đỉnh đầu mới quay về
ẢNH: HẢI PHONG
NHỌC NHẰN GIỮA DÒNG NƯỚC
Theo ông Nguyễn Văn Lô (50 tuổi, ở xã An Phú), nghề cào don đã tồn tại rất lâu đời. Cứ sau mỗi mùa lũ, khi nước rút, người dân lại xuống sông kiếm sống. "Nhìn vậy chứ nặng nhọc lắm. Phải có sức khỏe, có kinh nghiệm mới theo được nghề", ông Lô nói.
Ông Lô kể bản thân ông cũng mất gần 1 năm "học việc" mới quen tay. "Phải cảm được con don dưới lớp cát, biết chỗ nào có, chỗ nào không. Không phải cứ cào là trúng", ông cười.
Không chỉ nặng nhọc, nghề cào don còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Người lao động phải ngâm mình dưới nước hàng giờ liền, đối mặt với cái lạnh, dòng chảy và những vật sắc nhọn dưới đáy sông. "Có khi giẫm phải mảnh chai vỡ, bị đứt chân. Có lúc bị chuột rút giữa dòng, rất nguy hiểm", một người cào don chia sẻ.

Don sống ở gần bờ, nằm dưới lớp cát vàng
ẢNH: HẢI PHONG
Những vết sẹo chi chít trên tay chân là minh chứng cho những lần va phải vật cứng, sắc nhọn. Thế nhưng với họ, đó đã trở thành "chuyện thường ngày". "Cực nhưng quen rồi. Không làm thì không có tiền lo cho gia đình", ông Lô nói.
Những người lớn tuổi như ông Lô, bà Liên vẫn miệt mài với nghề, không chỉ vì thu nhập mà còn vì tình yêu với dòng sông quê. "Bỏ thì thương, vương thì tội. Nghề này nuôi sống bao thế hệ rồi", bà Liên chia sẻ.

Cửa Đại là nơi giao thoa giữa sông Trà và biển, có rất nhiều loài hải sản sinh sống
ẢNH: HẢI PHONG
Trong từng tô don nóng hổi không chỉ có vị ngọt của phù sa, mà còn có cả mồ hôi, công sức của những con người ngày ngày lặn lội dưới sông. Đó là hương vị của quê hương, của ký ức. Dẫu cuộc sống có nhiều đổi thay, dòng sông Trà vẫn chảy, và những con người nơi đây vẫn bám sông mà sống. Như con don nhỏ bé vùi mình trong cát, họ âm thầm góp phần làm nên bản sắc không thể trộn lẫn của đất và người Quảng Ngãi. (còn tiếp)
Bình luận (0)