Nguy cơ học sinh không 'chịu' thuộc văn bản văn học

Yêu cầu sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa đã được áp dụng trong kiểm tra, đánh giá từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, bên cạnh những chuyển biến tích cực, giáo viên thấy không ít vấn đề cần nhìn nhận lại để cách làm này hiệu quả hơn.

Dùng văn bản ngoài sách giáo khoa: Thay đổi từ học "bài văn" sang học "cách đọc văn"

Chủ trương đưa văn bản ngoài sách giáo khoa (SGK) vào đề kiểm tra trước hết xuất phát từ một yêu cầu chính đáng: không thể đánh giá năng lực đọc hiểu nếu học sinh (HS) chỉ cần học thuộc những gì đã được giáo viên (GV) giảng về một văn bản quen thuộc. Khi phải đối diện với một ngữ liệu mới, HS buộc phải đọc, suy nghĩ và tự tìm cách giải quyết vấn đề.

Chuyển biến tích cực dễ thấy nhất là từ nhớ văn bản sang biết đọc văn bản. HS đã biết tự xác định thông tin, nhận diện đặc điểm thể loại, khám phá hình ảnh, ngôn ngữ, mạch cảm xúc và đưa ra cách hiểu của mình.

Nguy cơ học sinh không 'chịu' thuộc văn bản văn học  - Ảnh 1.

Chuyển biến tích cực dễ thấy nhất từ chủ trương đưa văn bản ngoài sách giáo khoa vào đề kiểm tra là học sinh từ nhớ văn bản sang biết đọc văn bản

ảnh: Đào Ngọc Thạch

Đưa văn bản ngoài SGK vào đề kiểm tra xóa bỏ phần nào việc học văn mẫu. Khi những văn bản đã được học không còn là "địa chỉ" chắc chắn của đề kiểm tra, việc học thuộc một bài văn mẫu để tái hiện nguyên xi sẽ giảm hiệu quả. Điều đó tạo động lực để HS chuyển từ việc ghi nhớ câu chữ sang nắm phương pháp, kỹ năng và biết vận dụng. Đây là sự thay đổi từ học "bài văn" sang học "cách đọc văn", từ nhớ đáp án sang hình thành năng lực.

Điều này giúp khuyến khích năng lực vận dụng cho HS. HS hiểu thế nào là điểm nhìn trần thuật, hình ảnh biểu tượng, mạch cảm xúc, đặc điểm thể loại hay cách lập luận không chỉ để trả lời câu hỏi trên một tác phẩm cụ thể. Những kiến thức ấy phải được vận dụng khi các em gặp một văn bản khác. Bởi vậy, ngữ liệu mới tạo cơ hội kiểm chứng khả năng chuyển giao kiến thức và kỹ năng từ văn bản đã học sang văn bản chưa học.

Bên cạnh đó, đưa văn bản ngoài SGK vào đề kiểm tra giúp mở rộng không gian đọc do SGK không còn là giới hạn duy nhất của việc đọc. HS có thêm động lực tiếp xúc với những tác phẩm, tác giả và dạng văn bản khác nhau. Điều này góp phần hình thành thói quen đọc rộng, đọc đa dạng và chủ động tìm kiếm văn bản ngoài phạm vi sách giáo khoa.

Ngoài ra còn giúp việc đánh giá chính xác hơn. GV sẽ phân biệt rõ hơn giữa người nhớ được một bài phân tích với người thực sự có khả năng đọc, hiểu và trình bày suy nghĩ về một văn bản.

Tác phẩm cụ thể không quan trọng bằng "kỹ năng làm bài"

Tuy nhiên trong quá trình dạy học, vẫn còn nhiều bất cập cần thay đổi. Thứ nhất, phải nhìn nhận lại văn bản mới không mặc nhiên đồng nghĩa với đánh giá năng lực. Một văn bản mới nhưng câu hỏi quá quen, đơn giản thì chưa chắc đã tạo ra một bài kiểm tra năng lực. Ngược lại, văn bản đã học vẫn có thể được sử dụng để đặt những câu hỏi yêu cầu HS đánh giá, phản biện, so sánh, vận dụng hay nhìn nhận tác phẩm từ một góc độ mới.

Thứ hai, nghịch lý có thể nảy sinh: GV dành nhiều thời gian giúp HS đọc sâu, hiểu kỹ những tác phẩm trong SGK, nhưng đến bài kiểm tra lại chuyển sang một văn bản khác. Nếu HS tiếp nhận điều này một cách máy móc, các em có thể nghĩ rằng tác phẩm cụ thể không quan trọng bằng "kỹ năng làm bài". Khi ấy, văn học dễ bị thu hẹp thành những thao tác nhận diện và xử lý ngữ liệu, trong khi giá trị thẩm mỹ, cảm xúc và vốn văn hóa mà tác phẩm đem lại lại bị xem nhẹ. Đây cũng là trăn trở của các tác giả soạn sách khi tập huấn cho GV. Thậm chí sự lo lắng HS sẽ không "chịu" thuộc vài câu thơ Kiều là có cơ sở.

Thứ ba, nguy cơ "lạ hóa" biến thành "đánh đố". Đó là việc một văn bản lạ, quá xa trải nghiệm của HS, gây khó nhiều hơn là năng lực.

Thứ tư, nếu tuyệt đối hóa nguyên tắc không dùng lại văn bản đã học, chính những tác phẩm được nhà trường đầu tư nhiều công sức nhất lại ít xuất hiện trong đánh giá trực tiếp. Điều này dễ tạo ra khoảng cách giữa dạy học và kiểm tra đánh giá. Trong khi đó, kiểm tra không nhất thiết phải sao chép bài học, nhưng vẫn cần phản ánh những năng lực được hình thành qua quá trình học tập.

Nguy cơ HS chuyển từ học "thuộc văn bản" sang học "thuộc công thức" là điểm cần chú ý thứ năm. Với chương trình mới, HS vẫn có thể học thuộc các dạng câu hỏi, công thức đọc hiểu, dàn bài, những nhận xét quen thuộc hoặc luyện hàng loạt văn bản để "đón đề". Như vậy, cái bị thay đổi chỉ là đối tượng học thuộc, chứ chưa chắc là bản chất của việc học thuộc. Và cuối cùng là, gánh nặng tìm kiếm ngữ liệu đặt lên vai GV khi soạn đề.

Nguy cơ học sinh không 'chịu' thuộc văn bản văn học  - Ảnh 2.

Tuy nhiên sẽ có nguy cơ học sinh chuyển từ học "thuộc văn bản" sang học "thuộc công thức"

ảnh minh họa: Đào Ngọc Thạch

Dung hòa thế nào cho hợp lý?

Giải pháp trước hết là không tuyệt đối hóa văn bản mới. Có thể tiếp tục ưu tiên ngữ liệu ngoài SGK trong những bài kiểm tra cần đánh giá khả năng đọc hiểu độc lập, nhưng không nên coi "chưa học" là điều kiện duy nhất để một đề được xem là đổi mới.

Một hướng khả thi là thiết kế đề theo mô hình "quen và mới". Một phần có thể sử dụng văn bản đã học để đánh giá mức độ hiểu sâu, cảm thụ, phân tích và khả năng vận dụng kiến thức; phần khác sử dụng văn bản mới để kiểm chứng khả năng chuyển giao kỹ năng. Khi đó, đề kiểm tra đồng thời trả lời hai dạng câu hỏi: HS hiểu những gì đã học đến đâu và có thể làm gì với những điều đã học.

Đổi mới câu hỏi đi kèm đổi mới ngữ liệu. Một văn bản mới nhưng câu hỏi cũ vẫn có thể tạo ra một bài kiểm tra cũ. Ngược lại, một văn bản đã học nhưng được đặt trong một yêu cầu so sánh, phản biện, đánh giá hoặc vận dụng mới vẫn có thể đánh giá năng lực tư duy. 

Để gỡ khó cho GV, cần xây dựng ngân hàng ngữ liệu có kiểm định theo khối lớp, thể loại, chủ đề và mức độ khó. Một hệ thống ngữ liệu được lựa chọn kỹ sẽ giúp giảm áp lực cho GV và đồng thời nâng chất lượng đề.

Đổi mới đề cũng cần đi cùng đổi mới đáp án và cách chấm. Những câu hỏi mở phải có tiêu chí đánh giá đủ rõ nhưng không nên biến đáp án thành khuôn mẫu duy nhất. HS có thể có cách hiểu khác với đáp án định hướng nếu cách hiểu ấy có căn cứ, lập luận hợp lý và diễn đạt thuyết phục.

Cuối cùng, không nên đặt toàn bộ nhiệm vụ đánh giá năng lực lên một bài kiểm tra. Đọc sách, nhật ký đọc, thảo luận, thuyết trình, sản phẩm học tập, bài viết, dự án và các hình thức đánh giá thường xuyên đều có thể giúp GV nhìn thấy sự tiến bộ của HS. Khi đánh giá được thực hiện trong cả quá trình, văn bản đã học hoàn toàn có thể được khai thác mà không biến việc kiểm tra thành kiểm tra trí nhớ.


Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.