Tại cuộc hội ý này, Người nêu ý kiến: Cần cử một số đồng chí thay mặt Trung ương và Tổng bộ Việt Minh đi kiểm tra tình hình chuẩn bị khởi nghĩa từ Bắc vào Nam. Là cán bộ dày dạn kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức quần chúng, ông Hoàng Quốc Việt - một trong bảy Ủy viên Trung ương lâm thời đầu tiên của Đảng được Bác Hồ, Thường vụ Trung ương và Tổng bộ Việt Minh trao trọng trách đó.
Kết thúc cuộc hội ý, Bác dặn thêm: "Phải thực hiện thật tốt chính sách Mặt trận và cố gắng có mặt ở Nam Bộ sớm ngày nào hay ngày ấy".
Hành trình nam du với nhiệm vụ "thượng khẩn"
Nhận lệnh của Bác, của Trung ương và của Tổng bộ Việt Minh, ông Hoàng Quốc Việt lúc đó là Thường vụ Trung ương Đảng cùng ông Cao Hồng Lãnh - một cán bộ cao cấp của Đảng, xuất phát ngay trong khi Đại hội quốc dân còn đang họp. Đoàn đi theo đường Thái Nguyên về Hà Nội bằng đường sông. Thời điểm đó là mùa lũ, nước sông lên to, đoàn vừa đi vừa cứu được một số đồng bào bị lũ cuốn trôi.

ÔNG Hoàng Quốc Việt (người đứng hàng cuối) cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu tại Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt tổ chức tại Việt Bắc tháng 3.1951.
ẢNH: TTXVN
Về tới Yên Viên (thị trấn Yên Viên, H.Gia Lâm cũ), nhìn lên đường thấy một chiếc ô tô cắm cờ đỏ sao vàng, trên xe có nhiều người đang hồ hởi hát bài "Diệt phát xít" rồi "Chiến sĩ ca". Giữa hai bài hát cách mạng là tin "A lô, lực lượng khởi nghĩa do Việt Minh lãnh đạo từ bốn giờ chiều hôm nay đã làm chủ Hà Nội. Chính quyền Hà Nội đã hoàn toàn về tay ta".
Để vào Nam, cần có xe. Ông Hoàng Quốc Việt ra Hồ Hoàn Kiếm, chứng kiến cảnh hàng ngàn người tràn xuống lòng đường với những khuôn mặt tươi rói, nụ cười hồ hởi, hô vang những khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Ủy ban giải phóng dân tộc. Cùng với khung cảnh đó là những đoàn tự vệ vũ trang, tay súng, tay mác có mặt ở khắp mọi nơi. Đến bưu điện mới gặp được một chiếc xe hiệu Rơ-nôn phủ đầy bụi đường. Bác lái xe người Nam Bộ có cái trán hói ngồi trước vô-lăng đang ngủ. Hỏi ra mới biết: Đó là chiếc xe chở chị Nguyễn Thị Thập - đại diện Xứ ủy Nam Kỳ ra dự Quốc dân Đại hội Tân Trào đang chuẩn bị trở về. Thế là đoàn công tác của Trung ương đi nhờ để cùng vào Nam.
Ra khỏi ngoại thành, xe liên tục phải dừng lại để dân quân, tự vệ kiểm soát. Do đoàn có "giấy thông hành" đặc biệt của Tổng bộ Việt Minh cấp nên mọi việc đều "thuận buồm xuôi gió".
Dọc chiều dài đất nước, ông Hoàng Quốc Việt gặp được nhiều anh em, đồng chí. Có người mới gặp lần đầu, nhưng rất nhiều người là bạn chiến đấu cũ, đã từng cùng nhau "sống và chiến đấu" trong các nhà tù của đế quốc, thực dân, đặc biệt là những năm tháng ở nhà tù Côn Đảo - nơi địa ngục trần gian. Gặp nhau tay bắt, mặt mừng, là kêu to những biệt danh đã từng đặt cho nhau trong những ngày gian khổ như: Cuội, Búa, Bò rừng, Trâu chọi. Biết bao kỷ niệm vui buồn được nhắc lại.
Ông Cao Hồng Lãnh đến Đà Nẵng thì hay tin Hội An - quê ông, được giải phóng và đã thành lập chính quyền cách mạng. Anh em địa phương mời ông về dự mít tinh với bà con quê hương. Song, nhớ lời Bác Hồ dặn trước lúc ra đi: Phải gấp vào Nam sớm ngày nào hay ngày ấy, nên ông phải tạm biệt các đồng chí lãnh đạo tỉnh nhà để sáng hôm sau lên đường sớm.
Đến Phú Yên, đoàn công tác phải dừng lại. Hồi đó, ở một số tỉnh miền Trung có hai tổ chức Việt Minh: Đó là tổ chức Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc và tổ chức Việt Minh của Hồ Chí Minh. Chủ trương cứu nước, Điều lệ giống nhau, các tổ chức cứu quốc ở cấp dưới là một. Nhưng đến khi cướp được chính quyền rồi thì lại hình thành hai tổ chức và hoạt động độc lập với nhau.
Đoàn công tác của Trung ương đến cũng là lúc hai bên đang tranh cãi quyết liệt. Đồng chí Cao Hồng Lãnh ngồi nghe, không nhịn được cười, vui vẻ giới thiệu với hội nghị: Đồng chí Hoàng Quốc Việt - đại diện Tổng bộ Việt Minh của cả Nguyễn Ái Quốc lẫn Hồ Chí Minh sẽ nói chuyện với hội nghị.
Ông Hoàng Quốc Việt mới nói: Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là một. Nguyễn Ái Quốc là tên chúng ta đã biết từ trước. Còn Hồ Chí Minh là tên mới của Người có từ ngày Người về nước, trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.
Thắc mắc lâu nay đã được trả lời. Bất hòa đã được giải tỏa. Cả hai nhóm Việt Minh ôm nhau, vui mừng cảm động, rơi nước mắt.
Một tuần sau, đoàn vào đến Biên Hòa - mảnh đất địa đầu Nam Bộ. Vừa nghe bác tài reo: "Đất Nam kỳ rồi!" thì xảy ra một chuyện chẳng ngờ. Lúc đó có một nhóm biệt kích Pháp vừa nhảy dù xuống rừng cao su Biên Hòa thì bị quân ta bắt sống. Xe áp giải nhóm biệt kích này vừa lên đường quốc lộ thì gặp xe của đoàn công tác. Anh em tự vệ giữ xe của đoàn để kiểm tra giấy tờ. Dù đã trình giấy công tác đặc biệt của Tổng bộ Việt Minh, song anh em vẫn không chịu và ra lệnh bắt luôn đoàn phái viên đặc biệt của Trung ương đưa về giam tại khám Chí Hòa.
May thay, cán bộ trại giam nhận ra bà Nguyễn Thị Thập - Bí thư Xứ ủy - lãnh đạo của mình và sự hiểu lầm được giải tỏa.
Ông Hoàng Quốc Việt kịp dự Lễ Độc lập 2.9 ở Sài Gòn.

Lễ đài độc lập ngày 2.9.1945 tại Sài Gòn
ẢNH: BẢO TÀNG TP.HCM
Xử lý hàng loạt những công việc cấp bách
Thực hiện nhiệm vụ Bác Hồ giao, ông Hoàng Quốc Việt cùng các cán bộ của 2 xứ ủy giải quyết hàng loạt những công việc cấp bách. Một trong những việc quan trọng là theo chủ trương của Trung ương, trong tình hình cách mạng còn ở thời kỳ "trứng nước", cần mời các nhân sĩ, trí thức tiêu biểu ra đảm nhiệm công việc quan trọng của chính quyền để kẻ thù không thể kiếm cớ bóp nghẹt chính quyền non trẻ của chúng ta.
Đây là chủ trương đúng song không phải đã sớm được lãnh đạo các địa phương đồng tình. Nhiều đồng chí trong chúng ta lúc đó cứ đinh ninh rằng: khi đã giành được chính quyền rồi, người cộng sản phải nắm giữ hết các chức vụ thì cách mạng mới vững chắc. Phải kiên trì giải thích chủ trương của Trung ương, của Bác Hồ, cuối cùng mọi người cũng thông và nhất trí mời luật sư Phạm Văn Bạch ra làm Chủ tịch Ủy ban hành chính Nam Bộ với yêu cầu cấp ủy thường xuyên cùng ông điều hành.
Tiếp đến là việc giải tán đội "cộng hòa vệ binh", một tổ chức quân sĩ cách mạng mới được thành lập mô phỏng theo quân đội Anh. Thay vào đó là đội tự vệ cách mạng của nhân dân với phương châm: "Cơm nhà, áo vợ, việc dân, việc nước". Rồi bàn và đưa ra những đối sách với quân Anh - khi đó sắp tràn vào nửa phần phía Nam của đất nước với danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật, còn thực dân Pháp cũng đã kéo vào lăm le xâm lược nước ta một lần nữa.
Công việc cấp bách số một lúc này là tổ chức ra Côn Đảo để sớm đón anh em tù cộng sản đang nóng lòng từng giờ, từng phút trở về đất liền. Từ sau Nam Kỳ khởi nghĩa, tù chính trị chúng dồn ra Côn Đảo lên đến hàng nghìn người. Phải bằng mọi cách đưa các đồng chí mình về sớm ngày nào hay ngày ấy. Đây là nguồn bổ sung quan trọng cho đội ngũ cán bộ đang rất cần gấp hiện nay. Đây là những đồng chí đã từng được rèn luyện trong một "trường đào tạo" đặc biệt, trong đó rất nhiều đồng chí đã từng là lãnh đạo cấp cao của Đảng.
Bàn về việc này, có hai ý kiến. Ý kiến thứ nhất là cố tìm những con tàu thật to, hiện đại treo đèn, kết hoa cùng đoàn nhạc binh ra đón theo nghi thức mà các nước từng làm. Nhưng trong lúc này, lấy đâu ra tàu to, hiện đại?
Ý kiến thứ hai đề xuất vận động nhân dân, mang ghe thuyền của mình ra đón các chiến sĩ từng bị cầm tù ngoài đó. Đấy là cách nhanh nhất và dễ làm nhất.
Tưởng Dân Bảo - một chiến sĩ cộng sản, vốn là một đảng viên Quốc dân Đảng được ta giác ngộ đã từng bị bọn thủ lĩnh lưu manh hóa của Quốc dân Đảng tuyên án "xử tử" về cái gọi là "phản bội đảng, đi theo cộng sản" xung phong nhận nhiệm vụ và cùng rất nhiều anh em đi ngay về Gò Công và Kiến Phước. Vài ngày sau, anh em báo về đã có trên ba chục ghe lớn sẵn sàng tham gia. Ngày 16-9 đoàn ghe thuyền kéo cờ, căng buồm ra khơi đưa các đồng chí, đồng đội từ Côn Đảo trở về.
Cách mạng vừa thành công, biết bao việc đang chờ cán bộ. Lực lượng ở Côn Đảo về được phân công nhiệm vụ luôn, nhiều đồng chí gần quê cũng chẳng kịp về nhà thăm vợ con và người thân. Một số đồng chí được bổ sung vào Xứ ủy Nam Kỳ.
Và tất cả đã sẵn sàng cho một chặng đường nóng bỏng đang chờ đợi ở phía trước.
Ông Hoàng Quốc Việt tên khai sinh là Hạ Bá Cang, sinh ngày 28.5.1905 tại làng Đáp Cầu, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh).
Ông gia nhập vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tháng 10.1928, sau đó trở thành đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng. Sau Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2.1930), ông Hoàng Quốc Việt là một trong 7 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời.
Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5.1941), ông được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Năm 1943, đồng chí được Trung ương Đảng giao trọng trách quyền Bí thư Tổng Bộ Việt Minh. Trong những ngày sôi sục của Cách mạnh Tháng Tám lịch sử năm 1945, ông là đặc phái viên của Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh vào Nam Bộ để chỉ đạo và kiểm tra phong trào tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi đất nước giành được độc lập, tại Đại hội II của Đảng (năm 1951), ông được bầu vào Bộ Chính trị, tiếp tục được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiều trọng trách quan trọng trong hệ thống chính trị. Trong suốt gần 3 thập kỷ, ông là Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1950 - 1978).
Ông là Viện trưởng Viện KSND tối cao đầu tiên của Việt Nam, đặt nền móng cho ngành kiểm sát nhân dân (1960 - 1976).
Ông phụ trách công tác Dân vận và Mặt trận của Đảng từ 1974, làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977 - 1983), Chủ tịch danh dự Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1983) đến lúc qua đời (năm 1992). Ông cũng là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII.
Ông Hoàng Quốc Việt là một trong số rất ít nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng liên tục giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt ngay từ những ngày đầu Đảng mới thành lập và cống hiến không ngơi nghỉ cho đến cuối đời.
(Theo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
* Bài viết được tác giả Nguyễn Túc (nguyên thư ký của ông Hoàng Quốc Việt từ 1970 - 1983) ghi lại theo lời kể của ông Hoàng Quốc Việt. Bài viết đã được xuất bản trong sách "Những ánh sao Khuê" của tác giả, xuất bản vào năm 2022.
* Tiêu đề bài viết và các tít xen trong bài do Thanh Niên đặt.
Bình luận (0)