Con nai vàng tuổi thơ đi vào thơ
Nhận xét về thơ Lưu Trọng Lư, cũng là người bạn của mình, Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941 (viết cùng Hoài Chân, Nguyễn Đức Phiên xuất bản, 1942) cho rằng thơ Lưu Trọng Lư là thơ của mộng "đó mới là quê hương của Lư"… "cảnh mộng có khi cũng có màu sắc như chiếc cáng điều lững thững trên sườn núi hay con nai vàng ngơ ngác trong rừng thu". Nói về con nai vàng ngơ ngác đi vào thi phẩm bất hủ của mình, Lưu Trọng Lư tâm sự con nai vàng ấy không đơn thuần là trí tưởng tượng, là hồn thơ bay bổng tiếng thơ ngân, mà có thật, và in vào tâm trí thi nhân từ dạo nhỏ để rồi sau này đi vào Tiếng thu.

Tập bút ký Mùa thu lớn nhà thơ Lưu Trọng Lư bật mí hình ảnh con nai vàng
ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA
Trong tập bút ký Mùa thu lớn (NXB Tác phẩm mới, 1978), Lưu Trọng Lư tâm sự vốn gia đình nhà nho, cha là ông quan rời bỏ quan trường về làm thầy đồ dạy trẻ. Anh em Lưu Trọng Lư được dành cho một chái nhà phía tây có cửa sổ. "Trên vách, cạnh chỗ tôi hàng ngày ngồi học, có ghi bằng chữ Hán to bài ký của thầy tôi, và dưới bài ký là hình một con nai có hoa. Có lẽ là một con lộc thì đúng hơn! Tuổi nhỏ tôi sống bên con nai con đó. Khi chán học, tôi ngẩng lên nhìn nó. Khi mỏi mắt, muốn thiếp đi một chút, bỗng giật mình tỉnh dậy, tôi lại mở mắt to, nhìn nó".
Con nai nơi vách nhà trở thành sinh vật như có tâm hồn chia sẻ những cảm xúc của cậu bé. Những lúc nghe chuyện đời mà người làng đến thưa với cha, "tôi lại thấy con nai của tôi quả là một con vật đáng yêu nhất giữa cõi đời"… "từ chái tây, con nai của tôi tưởng như rớm nước mắt cúi đầu xuống nhưng rồi nó lại ngẩng lên nhìn tôi, và kỳ diệu! Vẫn hồn nhiên, vô tội, ngơ ngác trước mọi sự biểu hiện hiền lành hay tàn bạo của cuộc sống". Trong hồi ký Nửa đêm sự tỉnh, Lưu Trọng Lư nhớ người bạn họa sĩ Phạm Hầu đã minh họa hình ảnh con nai trong tập thơ Tiếng thu của mình, và "trong con nai thu của tôi, không phải chỉ có cái ngơ ngác của tôi mà thôi. Trong tập thơ Tiếng thu của tôi, anh có một bức tranh nai, nét vẽ sơ sài, dại dột, thật thà".

Tác phẩm Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy Xuân Diệu chia sẻ về Tú Mỡ
ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA
Tú Mỡ làm thơ "bỡn quá hóa thật"
Trong tác phẩm Công việc viết văn, GS Đặng Thai Mai có bài viết "Quá trình bồi dưỡng nghề viết văn của tôi", chia sẻ thời gian viết cho tờ báo Đảng tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta). Trên tờ này, Đặng Thai Mai viết loạt bài cho mục "Truyện ký chân thật của thời đại mới", và các bài viết toàn là người thật việc thật, được tác giả thống kê như Chú bé, Vận mạng chống đối, Cô câm lên tiếng, Cô gái điên… "Tôi cố gắng kể lại chuyện những người học sinh, thanh niên, phụ nữ đã hoạt động và hy sinh cho cách mạng từ những năm đầu thế kỷ cho đến năm 1930".
Nhà thơ Huy Cận thì có kỷ niệm tình yêu thuở thanh niên, cũng là động lực chắp cánh cho những vần thơ ra đời. Dạo năm 1944, Huy Cận hoạt động cách mạng, tham gia Tổng hội sinh viên ở Hà Nội. Nhà thơ có tình cảm với nữ sinh N.M. Hai người gặp gỡ, thư từ qua lại suốt một thời gian. Cách mạng tháng Tám thành công, trong Hồi ký song đôi, tác giả của Lửa thiêng ghi lại "lúc ở Tân Trào về tôi lại viết thư cho N.M. Trong một bức thư, N.M. có nói rằng rất tiếc là chưa đủ tuổi để đi bầu quốc hội và để được bầu tôi (Sự thực nếu N.M. đủ tuổi cũng không bầu tôi được vì tôi ứng cử ở Hà Đông, mà N.M. thì trong danh sách cử tri ở Hà Nội). Trong một bài thơ, tôi có phản ảnh điều tiếc ấy của N.M., bài thơ lạc mất, nay tôi chỉ còn nhớ hai câu: "Trong thư em nói tiếc vô chừng/Thiếu tuổi bầu anh vào quốc hội".

Tập thơ Tiếng thu xuất bản năm 1939 của Lưu Trọng Lư
ẢNH: THƯ VIỆN QUỐC GIA PHÁP
Với Tú Mỡ, Xuân Diệu lại có nhiều kỷ niệm về nhà thơ trào phúng có tên thật Hồ Trọng Hiếu. Trong tiểu luận Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy, cha đẻ thi phẩm Vội vàng tiết lộ nguyên do đưa lối chàng công chức kế toán của Sở Tài chính Phủ Toàn quyền tới thơ trào phúng chính từ tâm sự của Tú Mỡ. Rằng Tú Mỡ từ nhỏ đã tinh nghịch, vui tính, thích pha trò và hay trêu chọc. Hồi đi học ở trường Hàng Vôi, vì thấy Hoàng Ngọc Phách và bạn hay xướng họa thơ nhưng khi Hiếu lại gần nghe thì bị đuổi như kẻ ngoại đạo. Ức lắm, Hiếu liền cùng một anh bạn cũng làm thơ, nhưng thay vì thơ hay, cặp đôi này làm thơ nghịch, châm chọc các ông giáo Tây và những nhân vật khác. Thế rồi, "bỡn quá hóa thật, tôi đâm ra thích làm thơ", Tú Mỡ chia sẻ. (còn tiếp)










Bình luận (0)