Sau năm 1954, Hà Nội với quy mô nửa triệu dân gồm đa phần nhà thấp tầng hiển nhiên không đủ đáp ứng cho các gia đình công nhân và viên chức tăng đột biến. Khu tập thể quy mô xuất hiện từ đầu thập niên 1960 như kết quả của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) với khu Kim Liên, Nguyễn Công Trứ, Văn Chương cao 3, 4 tầng, bên cạnh các dãy nhà cấp bốn tạm thời. Thuật ngữ chính thức ban đầu là "tiểu khu nhà ở lớn", còn "khu tập thể" xuất hiện như cách gọi phụ để phân biệt với nhà mặt đất riêng lẻ. Năm 1962, bài hát Những ánh sao đêm của Phan Huỳnh Điểu ra đời, tôn vinh những người thợ "xây cho nhà cao, cao mãi" dù chiều cao các khu nhà lúc đó chưa vượt quá 5 tầng.

Ký họa khu tập thể của Nguyễn Trương Quý
Ảnh: TGCC
"Thiên đường trí thức"
Tổng kết 10 năm xây dựng thủ đô, kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật chỉ ra nét mới của những công trình quy mô lớn, bố trí hàng loạt nhằm đương đầu với "thành trì kiên cố là cơ sở sở hữu cá nhân", lấy vườn hoa công cộng và các công trình phúc lợi xã hội (nhà gửi trẻ, trường học, nhà ăn, cửa hàng bách hóa, thực phẩm...) làm trung tâm (Nhân Dân, 11.10.1964). Phải sau Hiệp định Paris đầu năm 1973, cấu trúc đô thị Hà Nội mới chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ với những khu nhà ở dần được gọi rộng rãi bằng tên "khu tập thể".

Quy hoạch tiểu khu nhà ở Thanh Xuân Bắc
Ảnh: TGCC
Sau ngày thống nhất đất nước, các tiểu khu xây bằng tấm bê tông lắp ghép 5 tầng lần lượt hoàn thành như Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công..., tiến hóa từ quy hoạch theo điểm, theo diện sang theo tuyến. Tinh thần gắn kết cộng đồng của khu tập thể tìm được chỗ đứng nhờ sự đan bện giữa tập tục làng xã và yếu tố "công xã", tạo nên hình ảnh những cư dân kiểu mẫu trong thời đại mới.
Thậm chí người có xuất thân gia đình nghệ sĩ nổi tiếng như diễn viên Lê Vân cũng choáng ngợp với sự mới mẻ, hiện đại của một căn hộ khu tập thể lắp ghép (...): "Cuối những năm bảy mươi, khi tất cả còn phải sống chui rúc hàng trăm người chung một nhà xí, thì một căn hộ với phòng khách riêng, phòng ngủ riêng, một nhà tắm với vệ sinh riêng nhỏ xíu nhưng sạch sẽ là cả một niềm mơ ước. Hồi đó, sau giải phóng, nên trong nhà anh cũng đã thấy có kê một tủ lạnh, một đàn piano, những kệ sách chất đầy sách gợi ra cả một thiên đường trí thức (...)". (Bùi Mai Hạnh - Lê Vân, Lê Vân - Yêu và sống, tự truyện, NXB Hội nhà văn, 2006, trang 133).
Vẻ lãng mạn của các khu nhà ở tập thể đã thành một "ánh đèn hoa sáng ngời" dìu con người vượt qua giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, trở thành ẩn dụ cho giấc mơ đô thị trọn vẹn trong âm nhạc (Bài ca xây dựng của Hoàng Vân, 1973), thơ ca hay kịch của Lưu Quang Vũ (Người tốt nhà số 5, 1984).
Đoạn kết cuộc tình
Thập niên 1990 bắt đầu với sự chấm dứt của kinh tế tập trung bao cấp. Các khu tập thể được tư nhân hóa ("hóa giá") cho các hộ dân mà thiếu ngân quỹ duy tu cảnh quan. Sự xuống cấp của chúng hiện diện nhiều phần méo mó qua những trang viết thời Đổi mới (...) hay hồi ức pha chút trào lộng, xót xa của Nguyễn Khải về cảnh sống chật chội trong khu tập thể cấp bốn cũ: "Ăn cơm gia đình thì vợ con ngồi ăn dưới đất, còn chủ và khách thì dọn cơm trên bàn vì cũng chỉ có hai cái ghế. Một cái bàn, hai cái ghế, hai cái giường, một cái tủ nhỏ, kê vừa chật mười lăm mét vuông của căn hộ một gia đình cấp úy, cấp tá thì được thêm nửa gian nữa, rồi cơi một gian phía trước, vẩy một gian phía sau, vẫn sống rất thoải mái gần hai chục năm trời, lúc chiến tranh lúc hòa bình…" (Thượng đế thì cười, 2012).

Báo chí viết về xây dựng thủ đô
Ảnh: TGCC
Giờ đây, diện mạo của các khu tập thể đã biến dạng quá xa ban đầu và dần được thay thế bởi các chung cư cao tầng, khu đô thị mới... (còn tiếp)
(Trích từ cuốn Dấu vân tay của phố, tác giả Nguyễn Trương Quý, NXB Hà Nội và Công ty Nhã Nam)










Bình luận (0)