Sau ba ngày nằm vùi, mẹ gầy rộc, hốc mắt trũng sâu, gò má nhô cao dưới làn da xanh tái. Từ một người đàn bà nuột nà, gợi cảm, bỗng chốc mẹ trở thành một người khác. Héo hon. Câm lặng.
Qua cơn vật vã, mẹ bật dậy vấn mớ tóc rối, xỏ dép ra vườn giâm lại mấy chậu nguyệt quế. Mẹ dọn dẹp, sắp xếp lại các thứ trong nhà. Đầu tiên, mẹ gỡ tấm chân dung chụp cùng bố ngày mới yêu nhau. Mẹ cất một chiếc ghế ở bàn ăn vào nhà kho. Chỗ bố ngồi làm việc, mẹ thay vào đó chậu trúc nhật xum xuê. Mẹ dọn tủ quần áo, gom từng chiếc tất, khăn mặt của bố… cho hết vào rương gỗ, cả bàn chải đánh răng, đôi dép mây đi trong nhà. Đẩy rương vào nhà kho, mẹ khóa lại. Chỉ sau hai ngày, nhà tôi không còn dấu tích gì của bố, cứ như bố chưa từng tồn tại trên đời. Mẹ câm lặng như một con ốc rút vào chiếc vỏ cứng và gai góc. Những cuộc vui bạn bè thưa dần. Ban đầu, tôi có chút hoang mang, sợ mẹ không vượt qua được cú sốc quá lớn này. Nhưng tôi nhầm. Mẹ trở nên điềm tĩnh lạ thường.

minh họa: Tuấn Anh
Mỗi ngày, mẹ dậy sớm đến phòng tập. Trở về, mẹ đi chợ, nấu ăn. Thời gian còn lại mẹ dành ngồi đan áo. Mẹ lôi chiếc làn mây dưới gầm giường, lấy ra những cuộn len cũ. Chúng là phần thừa của những chiếc áo: một ít màu tro, xanh xám, nâu nhạt, vài đoạn len đã xổ tung được quấn lại vội vàng. Không cuộn nào đủ để đan trọn một chiếc áo. Mẹ nối chúng với nhau bằng những nút thắt nhỏ. Chiếc áo mới bắt đầu được đan bằng một vết nối.
Mẹ đan hết ngày này sang ngày khác, cứ như đó là công việc mẹ đam mê từ ngày còn trẻ. Có đêm tôi choàng tỉnh, mẹ vẫn ngồi ở sofa, đôi que đan lách cách thỉnh thoảng lại lóe lên. Dưới chao đèn, gương mặt mẹ kín bưng, cái nhìn xuống xanh xao và u uẩn. Nếu đôi tay mẹ không đều đều đẩy mũi kim, người ta sẽ nhầm đó là một bức tượng sáp. Chẳng biết từ bao giờ, tôi tránh nhìn vào mắt mẹ. Ánh xa xăm và lạnh lẽo như một nấm mồ hoang khiến tôi có cảm giác mình như một kẻ lữ hành qua đây xin trọ.
Mỗi ngày, mẹ ngồi bên ô cửa. Và đan. Thỉnh thoảng mẹ dừng tay, nhíu mày, gỡ ra vài hàng, rồi lại đan. Những mũi len xổ xuống, cuộn lại như những con sâu nhỏ. Có lần tôi hỏi: "Ai dạy mà mẹ đan giỏi vậy?". Mẹ cười: "Chẳng ai cả, mẹ chỉ nhìn bà ngoại đan rồi bắt chước". "Bà có đan áo cho ông ngoại không?". "Không, bà chỉ đan áo cho riêng mình". Yên lặng hồi lâu, tôi hỏi tiếp: "Mẹ có nhớ bố không?". Đôi que đan khựng lại. Một thoáng nhìn tôi, rồi cúi xuống, bàn tay mẹ lại tiếp tục đan, thoăn thoắt. Vắt trên ngón tay út của mẹ, sợi len cũ được nối bằng một sợi mới khác màu, thấy rõ đường nối như một vết sẹo. Đan xong một hàng, mẹ kiếm cớ đứng lên, đến bên chiếc gương trang điểm lấy lược chải tóc. Tôi chợt nhận ra, chiếc gương của mẹ đã phủ một lớp bụi mờ. Bao nhiêu năm rồi, mẹ chẳng buồn lau nó.
Hai mươi tuổi, lần đầu tôi đưa người yêu về ra mắt mẹ. Anh ngồi ở góc chiếc ghế bố từng ngồi, nói chuyện nhỏ nhẹ, lễ phép. Mẹ pha trà, đặt xuống bàn rồi lui về chỗ cũ, tiếp tục đan. Anh về rồi, mẹ gọi tôi lại hỏi: "Con có chắc người này sẽ ở lại bên con?". Tôi bật cười. "Mẹ bi quan quá!". Mẹ yên lặng. Đôi que đan sáng loáng lại chạm vào nhau, tiếng lách cách có phần gấp gáp. Đan xong một đoạn, mẹ đứng lên cuộn chiếc áo dở dang cho vào túi, cất lên nóc tủ.
Chúng tôi cưới nhau vào mùa thu. Hôm đó mẹ mặc chiếc áo dài màu thiên thanh, tóc vấn đơn giản và sang trọng. Nỗi héo hon trên gương mặt vẫn không lấp được vẻ yêu kiều của mẹ. Mẹ nhìn tôi, ánh mắt lặng lẽ thoáng chút xót xa, giống hệt cái ngày mẹ kê chiếc ghế đứng lên gỡ bức ảnh chụp cùng bố.
Cuộc hôn nhân của tôi kéo dài không quá hai mùa đông. Anh có một người đàn bà khác. Tôi trở về, gầy gò và câm lặng với hai va li áo quần và một chiếc bóng mệt mỏi của chính mình. Hôm đó là một ngày mưa lâm thâm, cái lạnh xuyên qua da nhoi nhói. Mẹ mở cửa, nhìn xuống đôi giày ướt mưa của tôi. Mẹ không hỏi, chỉ lùi lại cho tôi đi vào.
Ngồi bệt xuống sàn, tôi dựa vào chân mẹ như ngày còn bé. Tôi không khóc, hai hốc mắt ráo hoảnh lơ ngơ nhìn ra ô cửa rụng đầy lá. Mẹ cúi xuống chăm chú vào mũi kim đan, mắt mở to không chớp. Yên lặng hồi lâu, mẹ bỗng lên tiếng: "Nó trả con lại cho mẹ rồi sao?". Tôi nhìn mẹ nghẹn đắng. Một mũi len rơi ra, tuột dài. Mẹ không gỡ. Lần đầu tôi thấy mẹ để mặc nó. Mẹ cúi xuống nắm bàn tay tôi. Bàn tay nuột nà ngày xưa của mẹ từ bao giờ đã gồ lên những vết chai sần. Lạnh ngắt.
***
Bố ốm nặng, nằm viện hơn hai tháng trời. Cô vợ hờ sau khi vét nốt số tài sản cuối cùng, lặng lẽ ôm thằng con trai dông tuốt qua trời tây cùng với một ông Việt kiều già và giàu hơn bố. Được tin qua người quen, tôi vội vàng chạy đến. Bố nằm, lưng dán vào tấm ga giường xộc xệch. Thấy tôi, hai hàng nước mắt bố ứa ra. Đêm đó, tôi xin mẹ cho tôi được đưa bố về chăm sóc. Mẹ yên lặng đứng lên, thả rơi đôi que đan, cuộn len vàng lăn lông lốc xuống gầm bàn, nằm chỏng chơ như một trái cam héo.
Bố về, được tôi chăm sóc, sức khỏe khá lên từng ngày. Mất một ngày hì hục dọn dẹp cho tươm tất, mẹ chuyển vào căn phòng ở phía sau vườn nhà. Nơi đó trước đây là nhà kho chứa đồ cũ. Mỗi ngày mẹ vẫn lặng lẽ ngồi đan. Đến bữa cơm, mẹ luôn ăn sau cùng. Có đêm mất điện, mẹ vẫn đan trong bóng tối. Trong đêm tĩnh, tiếng que đan lách cách vọng lên từng nhịp đều đặn.
Bố bắt đầu công cuộc chinh phục mẹ. Sáng sớm bố ra vườn cuốc cỏ. Hai bàn tay trắng trẻo một thời luôn thơm phức nước hoa, giờ cũng gồ lên những vết chai. Vườn trước, vườn sau, chẳng mấy chốc đã rợp màu hoa, toàn những loài hoa mẹ yêu từ ngày con gái: trà my, dạ lý hương, huệ mưa, dành dành… Bố thuê thợ làm một chiếc xích đu sơn trắng, đặt dưới giàn lãng tiên bên ô cửa phòng mẹ. Bố cho thợ đào hồ và thả xuống đó một đàn cá koi, vài bông súng trắng… Khu vườn từ ngày bố về, sống động hẳn lên. Duy chỉ cây thiết mộc lan cổ thụ ở cuối vườn cứ lụi dần, chẳng thể cho ra một nụ hoa nào nữa. Đó là cây hoa đầu tiên bố mẹ trồng ngày gia đình tôi dọn về đây.
Bố làm mọi cách để cây thiết mộc lan sống được, như một nỗ lực cuối cùng kéo mẹ về bên bố, cũng bởi mẹ yêu hương thơm của nó. Mẹ vẫn ngồi đan, ánh mắt lạnh lẽo như mặt hồ mùa đông. Một buổi sáng, tôi nhận ra cây thiết mộc lan đã chết, như ánh mặt mẹ cũng đã chết từ buổi chiều bố kéo va li rời nhà. Từ ngày đó, bố tránh đi qua nhà kho, nơi nhiều lần bố kiếm cớ đi qua, chỉ để được nhìn thấy gương mặt mẹ cúi xuống bên những cuộn len rối.
Bệnh bố tái phát. Mỗi ngày, mẹ vẫn đều đặn nấu cháo, pha sữa. Mẹ cặm cụi giặt cả những chiếc quần, tấm ga trải giường bố lỡ tè ra. Mẹ tận tụy như một người vợ tảo tần. Ai đến thăm cũng khen bố tốt phước. Những ngày cuối đời, bố nằm bất động nhìn ra ngoài ô cửa, gương mặt lơ ngơ như đứa trẻ đi lạc không biết mình đang ở chốn nào. Nhưng mỗi khi có sự xuất hiện của mẹ, bố lại tỉnh táo hẳn. Bố chìa bàn tay về phía mẹ, xin được mẹ nắm lấy một lần. Mẹ yên lặng cúi xuống lau mặt cho bố, như tiện tay, mẹ lau lại cái gầm giường. Xong việc, mẹ lặng lẽ lui ra.
Sáng hôm đó, sau khi đút cho bố được nửa bát cháo, bố đưa tay lên cổ chặn lại, ra hiệu cho tôi đừng đút nữa. Qua cơn thở dốc, bố thều thào bảo tôi lấy cho bố tờ giấy và cây bút. Tôi đỡ bố ngồi tựa lưng vào gối. Bàn tay run run, bố viết. Cây bút mấy lần chực rơi. Tờ giấy chỉ vỏn vẹn vài dòng, bố gấp lại, dặn tôi cất vào ngăn kéo, bao giờ bố ra đi, hãy gửi cho mẹ.
Qua hôm sau, bố trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi. Nhớ lời bố, tôi run run mở ngăn kéo. Đó là một bức thư ngắn ngủi thay cho lời trăng trối. Trong thư, bố ngàn lần xin mẹ tha thứ, và xin được nằm lại một nơi nào đó, mà bên cạnh, sau này sẽ là chỗ của mẹ. Bố yêu mẹ. Ước nguyện cuối đời bố chỉ muốn được ở bên mẹ. Tôi đưa bức thư cho mẹ. Mẹ lướt qua. Gương mặt bình thản.
Chuỗi ngày còn lại, mẹ câm lặng hơn. Căn phòng bố nằm vẫn bỏ không. Tôi nói gì, mẹ cũng kiên quyết không rời nhà kho.
Mẹ tắt hẳn nụ cười.
***
Mười năm. Thời gian như một cái chớp mắt, kể từ ngày bố không còn nữa. Mẹ bắt đầu nhớ nhớ quên quên. Mẹ quên tắt bếp gas, quên khóa cửa, có lúc mẹ quên cả bữa tối đã dọn ra. Nhưng tay mẹ vẫn đan. Ngay cả khi ngủ gật, đôi que đan vẫn kẹp giữa các ngón tay. Một chiếc kim đan cong nhẹ ở đầu mũi, như thể bị bẻ lúc mẹ siết mạnh tay. Bao nhiêu năm mẹ vẫn không thay đôi que đan. Chúng như một phần đời của mẹ.
Mùa đông năm đó mẹ không còn nhận ra tôi. Mẹ gọi tôi bằng tên người chị Cả đã mất từ khi còn nhỏ. Có hôm mẹ hỏi tôi có muốn ăn cháo không, như thể tôi vẫn là một đứa trẻ. Nhưng khi cầm que đan, tay mẹ lại chính xác đến lạ kỳ.
Một đêm, choàng tỉnh vì tiếng mưa tí tách rơi bên bậu cửa, tôi bật dậy nhìn ra. Chao đèn bên sofa vẫn sáng. Mẹ ngồi đó, hai bàn tay thoăn thoắt như múa, đôi que đan sáng loáng vẫn đều đều lách cách. Đồng hồ trên tường gõ đúng 12 giờ đêm. Ánh sáng từ chao đèn hắt xuống gương mặt mẹ nhợt nhạt như người ngâm dưới nước đã mấy trăm năm. "Sao giờ này mẹ còn đan?". Tôi hỏi. Mẹ đáp lại sự thảng thốt của tôi bằng nỗi câm lặng muôn thuở.
Sáng sớm. Căn nhà bao trùm nỗi yên ắng đến rợn người. Linh tính có chuyện chẳng lành, tôi lao về phía sofa kê ở góc phòng. Mẹ ngồi đó, đầu tựa vào thành ghế, đôi mắt khép hờ, gương mặt nhẹ nhõm như vừa trút xong một gánh nặng. Tim mẹ đã ngừng đập, hai cánh tay buông thõng, nhưng bàn tay vẫn nắm chặt que đan. Cuộn len rơi ra rối tung. Một sợi len chảy xuống sàn nhà như vết nứt dưới chân tôi. Tôi không khóc, chỉ thấy mình vừa bước qua một đoạn đời khác. Ngồi thụp xuống nhặt cuộn len, những sợi len rối đến mức tôi không thể tìm ra đầu mối.
Trên sofa, một tờ giấy gấp tư. Tôi nhặt lên. Đó là một bức thư, nét mực có chỗ nhòe đi. Có vẻ như mẹ vừa viết xong và để đó. Cho tôi.
Con yêu! Mẹ đã tha lỗi cho bố và thanh thản ra đi. Mẹ tin, dưới kia ông ấy cũng đọc được những dòng này. Ước nguyện cuối cùng: mẹ muốn được hóa tro, và chính tay con sẽ gửi chút tro bụi cuối cùng của mẹ vào lòng sông.
Tôi ôm mặt nghẹn ngào. Lồng ngực thắt lại như có ai vừa đi qua thò tay vào bóp nghẹt. Sau tang lễ, tôi lặng lẽ thực hiện ước nguyện cuối cùng của mẹ. Lúc trở về, tôi đến bên mộ phần của bố, thắp cho ông một nén nhang thay cho lời an ủi.
Căn nhà trở nên rộng khủng khiếp. Những lúc chỉ còn một mình, tôi lại lấy cuộn len của mẹ ra, cố gỡ. Càng gỡ, sợi len càng thít chặt. Những nút thắt nhỏ ẩn bên trong, kéo sợi này, sợi khác thít chặt hơn. Tôi ngồi suốt nhiều giờ, đầu óc trống rỗng, chỉ một động tác gỡ - kéo - thở dài - lại kéo. Tôi chợt nhận ra, tôi đang làm mọi thứ y hệt mẹ.
Mùa đông năm mẹ mất, tôi dọn lại nhà và tìm thấy một chiếc áo len đan dở, còn thiếu một cánh tay. Màu tro pha lẫn những đoạn đậm nhạt khác nhau, như những mùa đông cũ chồng lên nhau. Tôi ấp chiếc áo vào mặt. Mùi len cũ, mùi gỗ thông, mùi của những năm tháng hạnh phúc khiến cổ họng tôi nghẹn đắng. Tôi mặc thử. Chiếc áo vừa khít, như thể mẹ đã đo tôi từ xa, qua từng mùa tôi không ở nhà.
Dưới đáy rương còn rất nhiều cuộn len cũ. Có cuộn tôi vừa cầm lên đã lả tả rơi ra, mục ruỗng. Giữa đống len mục còn một cuộn màu đỏ, mới tinh. Cái màu đỏ nằm giữa mớ màu u ám, trông nó lạc lõng đến buồn cười. Tôi nhặt lên. Từ cuộn len thoảng ra một mùi hương quen thuộc, tôi dễ dàng nhận ra đó là mùi nước hoa của bố. Trong chiếc rương riêng tư của mẹ ở cuối đời, không hiểu sao lại còn ám mùi của bố? Tôi soi vào gương, thấy như khuôn mặt mẹ lồng trong khuôn mặt mình. Tôi chợt hiểu: mẹ không đan cho đứa trẻ mười hai, không đan cho cô gái mười bảy, cũng không đan cho người đàn bà ngoài bốn mươi. Mẹ đan cho tôi của những năm sau này.
Mùa đông đầu tiên không còn mẹ, tôi học đan. Đôi que đan cầm trên tay không chút ngỡ ngàng. Mũi len đầu tiên tôi rút thuần thục. Thoáng giật mình, tôi chợt nhớ chưa bao giờ mẹ dạy tôi đan. Những mũi len tiếp theo bắt đầu xiêu vẹo, sợi quá chặt rồi lại quá lỏng. Tôi gỡ ra. Đan lại. Gỡ ra. Rồi lại đan. Tôi nối sợi len mới vào phần len cũ còn sót, một mối nối xấu xí, không thể giấu. Tách… Mũi đầu tiên lệch. Tách… Mũi thứ hai quá chặt. Tách… Mũi thứ ba tuột ra. Tôi không gỡ, mà tiếp tục đan, để mặc cho nó méo mó, rối rắm, không hoàn hảo, giống hệt cuộc đời của những người phụ nữ trong gia đình này.
Tôi tái hôn. Một cuộc hôn nhân muộn màng nhưng êm ả. Một bé gái kịp chào đời trước khi xe của bố nó rơi xuống vực. Tôi bắt đầu thu mình vào cái vỏ ốc như ngày xưa mẹ từng thu mình, lúc bố rời đi.
Con gái lên tám tuổi, có lần tình cờ nhìn thấy chiếc áo len màu xám tro trong rương. "Con thích chiếc áo này!", nó kêu lên, hí hoáy mặc vào. Tay áo dài thượt, che gần hết bàn tay. Nó khúc khích cười, xoay vòng trước gương. "Áo ai đan vậy mẹ?". Tôi định nói "Bà ngoại", nhưng dừng lại. Con bé cởi chiếc áo ra, hít hà rồi quay sang tôi hỏi tiếp: "Áo có mùi gì vậy mẹ?". "Mùi của bà ngoại, của mẹ, và của những mùa đông đã xa", tôi thì thầm.
Tối hôm đó, khi con đã ngủ, tôi ngồi dưới chao đèn tiếp tục đan từ cuộn len còn sót lại. Sợi len cũ nối với sợi mới, màu đậm nhạt, như mẹ từng đan. Ngoài cửa gió vù vù thổi. Lách cách… lách cách… Tiếng que đan vang lên, giống hệt năm xưa.
Đêm rất khuya. Hình như mẹ đang ngồi sau lưng, bàn tay gầy đặt lên vai tôi, thật khẽ. Ngoài kia, gió mùa đông thổi qua, mang theo mùi của những ngày tháng đã lụi tàn…
Bình luận (0)